June 28, 2016

CON PHẬT

... Thím tôi là đứa con gái “lai Tây” bán trái cây ở chợ An Đông phụ má, giữa những ngày Sài Gòn mới giải phóng. Thím kể, mấy anh chị lớn không dám bưng bê trái cây vô nhà lồng chợ bán, sợ bạn bè thấy, mắc cỡ, còn thím, vì “khi lớn lên mới được má nhận về nuôi thì mừng lắm cho nên đi theo má à!”

---

“Thím được má gửi vô chùa nuôi từ khi còn rất nhỏ, khi má thím vô chùa dẫn thím về thì lúc đó hình như thím được sáu – bảy tuổi à!”. Tôi chưa nói thím tôi tham gia sinh hoạt gia đình Phật tử ở Việt Nam, nhưng hình như có một sự liên hệ vô tình hay hữu ý nào đó, thím cứ nhắc đi nhắc lại với tôi rằng thím được các sư cô nuôi dưỡng và thím ở trong chùa. Thím hay bắt đầu bằng câu “từ nhỏ thím đã ở trong chùa, mấy sư cô nuôi thím…” khi thím kể cho tôi nghe về thời trẻ của mình, về khoảng thời gian cực khổ, đầy khốn khó, dường như đó là sự biết ơn và trân trọng nhà chùa đã cưu mang, nuôi dưỡng và giáo dưỡng thím, để khi thím về lại với má thím, thì một mặt, thím rất mừng là giờ mình có má, một mặt những gì thím được sư cô dạy ở chùa như một thứ vũ khí vô hình đã giúp thím đứng vững trước “giông bão cuộc đời”- dù lúc rời chùa thím chỉ bằng tuổi một đứa học sinh cấp một, chưa “giác ngộ” được gì nhiều từ những lời kinh Phật. Thím chỉ biết tới giờ, lên tụng kinh, “tụng theo sư cô mà đâu có hiểu gì đâu”. Rồi khi ra đời, trở lại với cuộc sống đời thường, cũng đâu có được đi học vì hoàn cảnh gia đình không cho phép, thím phải theo má bán trái cây. Cuộc sống ở chợ, nơi thím buôn bán, và ở chợ đời thì các bạn cũng đã biết rồi đó, đủ mọi thành phần khác nhau, nhưng  thím không để mình bị nhiễm những thói quen xấu, thím biết ăn trộm, ăn cắp là xấu, cân thiếu cho người ta là không đúng, thím không buôn gian bán lận, không nói thách để người ta trả giá. Cái sạp của thím và má thím rất có uy tín ở chợ. Những chiều bán ế, thím bưng mâm trái cái vô chợ, nài nỉ mấy bà trong chợ mua giùm.

Chắc gương mặt lai Tây và hàng ngày đi dọn hàng giúp má đã gây sự chú ý và làm cô bác trong chợ cảm động mua giùm thím, thím còn được “lên báo” vì tấm gương hiếu thảo, còn nhỏ mà biết đỡ đần cha mẹ.

Thím rất biết ơn chú tôi vì đã hỗ trợ tài chính để má thím không bán thím lấy ba cây vàng, bán thím cho người ta làm giấy tờ đi Mỹ, chú thím lấy nhau chưa phải vì yêu mà một phần vì ân nghĩa, thím nói vậy. Như những người con Phật, thím kể về những biến cố trong đời không trách móc, không phê phán, mặc dù má thím có ý định bán thím, nhưng thím vẫn rất mực thương yêu và hiếu thảo với bà. Tôi nghe như thím thực hành lòng từ bi của đức Phật vậy. Chú thím lấy nhau sinh được em họ tôi thì thím có giấy tờ đi diện con lai. Thím lại tiếp tục hành trình cuộc sống ở một nơi có bốn mùa rõ rệt, không phải hai mùa mưa nắng như ở Sài Gòn: thành phố Alexandria, nước Mỹ. Những tưởng thím sẽ là một Phật tử thuần thành vì thím có ‘cái gốc” từ đạo Phật mà ra và nhờ cái “ba - bốn năm ở chùa” đó đã giúp thím vượt qua những phân biệt đối xử và “cái nhìn” nghiệt ngã mà xã hội dành cho những đứa con lai sau ngày giải phóng. Vậy mà, không, thím tôi giờ là một “con chiên ngoan đạo”. Những ngày mới đặt chân lên đất nước của tự do, được các mục sư giúp đỡ và, theo tôi, có lẽ là truyền đạo, thím dần trở thành một người tích cực trong các hoạt động mà trong đạo Tin Lành gọi là “người hầu việc” Chúa. Thím dự lễ nhà thờ, cùng các anh chị em khác trong hội thánh tổ chức nhóm họp, … như tôi là huynh trưởng Gia đình Phật tử, cùng sinh hoạt và tổ chức sinh hoạt với các anh chị em gia đình Phật tử.

Tuy nhiên, trước khi chính thức “cải đạo”, thím đã mất một năm băn khoăn, ray rứt với sự lựa chọn tôn giáo của mình. Bẵng đi một năm, thím không dám quay lại nhà thờ, cũng không đi chùa. Những tháng ngày đó, khi “chọn” Chúa thì thím cảm thấy “áy náy” với Phật, cảm thấy như mình có lỗi, rồi khi biết ra Chúa hay Phật cũng là một hình thái của đạo… thì thím cảm thấy thoải mái hơn khi gia nhập hội thánh Tin Lành ở nhà thờ Parkwood.

Tôi thấy thím sống một cuộc đời rất là thanh bần, là chủ của hai ngôi nhà, một ở, một cho mướn, có con gái là hoa hậu Châu Á nổi tiếng, nhưng thím sống chan hòa với tất cả mọi người. Những chướng ngại hoặc những điều tiếng xấu xa mà đồng nghiệp hay bạn bè gây ra cho thím, thím kể lại với giọng điệu không ganh ghét, hận thù, không phải kể tội người ta mà “cái đó là thử thách, để mình vượt qua và có Chúa luôn dõi theo mình trong từng việc mình làm”, thím nói vậy đó. Thím từ bi và thánh thiện đúng nghĩa. Chú có hỏi tôi: “Con tiếp xúc với thím, con có tìm được khuyết điểm nào của thím hông?” Tôi thiệt không biết phải trả lời sao! Từ năm chín mươi (thím định cư ở Mỹ) đến nay, từ nguồn gốc là một người con Phật cho đến làm một người con của thánh Giê-hô-va, là cả một quá trình biến chuyển từ cuộc sống xã hội đến đời sống tâm linh của thím. Chú mất mười ba năm mới chịu theo thím đi nhà thờ dự lễ mỗi tuần. Thím đã chuyển hóa các thành viên trong gia đình bằng cái “thân giáo” và “huân tập” của mình. Tôi thấy thím vận dụng rất hay và khéo léo. Cuộc sống của thím bây giờ thoải mái về kinh tế so với một kẻ “chân ướt, chân ráo” như tôi, có lẽ tôi làm thím nhớ lại thím của hai mươi sáu năm về trước nên thím tâm sự nhiều lắm, kể cho tôi nghe đủ thứ chuyện. Càng nghe, tôi càng cảm phục thím, sự hy sinh cao cả, tính kiên nhẫn, cứng rắn và kiên định, mềm mỏng nhưng dứt khoát. Diệu Hiền là pháp danh của thím, thím hay đùa, khi thím nói chuyện nhỏ nhẹ, dịu dàng thì thím là “con Hiền”, còn khi cần đấu tranh, dùng những lời lẽ và giọng điệu mạnh mẽ để bảo vệ lẽ phải thì thím là “con Mai”- tên “ngoài đời của thím. Thím tôi rất là hài hước. Tôi không biết tên thánh của thím là gì, chưa có dịp hỏi thím, nhưng điều tôi thắc mắc hơn cả là: tại sao Phật đã “đào tạo” nên một người con Phật “giỏi giang“như vậy mà Phật lại “trao” người đó vào tay Chúa?!

Phước Định
Viết xong vào một đêm mùa hè lạnh ở Virginia-nước Mỹ, 26/06/2016

April 21, 2016

THÂN GIÁO

(Tưởng niệm thầy Thích Như Thích)

Khi hay tin thầy Thích mất, trong tâm trí tôi vọng lại câu nói:”một người thì “tiền hô, hậu ủng", một người thì lặng lẽ chẳng ai biết đến”, nói là để so sánh giữa thầy và thầy Nhất Hạnh (em thầy), tôi thầm nghĩ vậy thầy Thích mất chắc cũng “âm thầm” và ít người đưa tiễn vì ít người biết đến thầy quá, nhưng chiều nay, về trước linh cữu thầy, bước vào, tôi đã nghe thấy một mùi hương ngào ngạt, những chậu hoa tưởng niệm viếng thầy để gần đầy hết lối vào phúng viếng, vậy là thầy cũng có người biết đến chỉ là tôi hông biết mà thôi.

Nhớ hồi tôi biết thầy, từ nhỏ tôi đã thấy thầy hay đi xe đạp ngang nhà tôi, tôi không hiểu, hồi nhỏ cứ nghĩ thầy là người nghèo, người ăn xin, không hiểu sao hay đi ngang nhà tôi hoài, mặc chiếc áo tơi đúng nghĩa, nhìn giống tấm vải mùng á, các bạn ạ! Sau này đi sinh hoạt trong chùa, tôi mới biết thầy là sư tu trong chùa gần nhà tôi. Sau bao nhiêu năm, “thời trang” của thầy vẫn không đổi, vẫn chiếc áo tơi màu trắng đó, thầy đã “rong ruổi”, tôi không biết thầy “rong ruổi” những đâu nhưng về hay đi đều đi ngang nhà tôi cả, tuổi thơ tôi lớn lên cùng hình bóng của thầy trên con đường trước nhà, mỗi khi tôi nhìn thấy thầy, một cái vẻ quen quen kỳ lạ nhưng tôi không biết đó là gì. Sau này tôi mới biết thầy là anh của thầy Nhất Hạnh, vị thầy tôi rất là ngưỡng mộ và có thể nói là nổi tiếng khắp thế giới, hèn chi tôi cứ thấy quen quen, nhưng tôi vẫn chưa tin lắm về mối quan hệ này… Đến khi thấy thầy ít đi ngang nhà tôi nữa, tôi mới biết thầy già yếu đi nhiều, sau đó thì thầy không còn đi lại được nữa, chẳng còn bóng thiền nhân trong cái xóm Phú Bình này nữa rồi…

Thầy mất…

Ai hay cái gì nhìn đã quen mắt giờ tự dung không còn nữa, một kẻ nhạy cảm như tôi bỗng thẫy chạnh lòng. Sáng nay, dõi nhìn theo chiếc xe quan chở thầy ra nhà hỏa táng Bình Hưng Hòa mà lòng dâng lên một nỗi niềm khó tả, thầy không có bà con gì với tôi hết, hình như thậm chí tôi chưa nói chuyện được mười câu với thầy, cớ sao tôi lại thấy không vui đến thế?! Nhớ những ngày tụi tôi học Phật pháp, thầy thỉnh thoảng đem trái cây, bánh ra “tiếp tế”, đang học đói bụng mà có đồ ăn là sướng lắm, nên tụi tôi khoái chí, cám ơn thầy lia lịa, hình như buổi nào học cũng được có cái gì đó để ăn. Rồi chúng tôi học hết bậc, lớp anh chị huynh trưởng phần đi nước ngoài, phần đi làm xa, chúng tôi lên lớp và có những chùa khác có chỗ để học nên chúng tôi không còn ngồi ở cái giảng đường (thật ra là cái nhà ăn, các bạn ạ!), cái giảng đường “ọp ẹp”, nhiều muỗi và không đủ sáng, chúng tôi chuyển qua chùa khác học, hoặc học bên đoàn quán của mình, không còn tối tối xúm nhau bên nhà ăn nữa, từ đó, chúng tôi cũng xa thầy, xa luôn cả bánh trái của thầy. Bây giờ, thầy nằm đó, trong cỗ áo quan có hương hoa lan và hoa lài ngào ngạt, khi chiếc xe lăn bánh đi trên đoạn đường đã được Gia đình Phật tử chúng tôi rải đầy hoa, tôi tưởng như thầy bước trên đường hoa đến cõi niết bàn. Cái xe đóng lại, hai cánh cổng nhỏ trên xe tạo thành chữ “phúc”, thầy đủ “phúc” trong cuộc đời rồi nên thầy đi đây con, tôi thấy trên di ảnh thầy một nụ cười thiền.

Đủ phúc, tang lễ của thầy ấm cúng, không có sự khóc lóc thảm thương mà chỉ có bóng y vàng rực rỡ, tôi đã bị choáng ngợp bởi y vàng rực rỡ đó, thật đẹp, thật trang nghiêm, tĩnh lặng, không gian trầm lắng trong tiếng chuông trống bát nhã âm vang, tiếng chuông trống bát nhã lần cuối cùng thầy nghe có hay không? Con thì nghe hay lắm, con thấy không có âm nhạc nào hay bằng tiếng chuông trống bát nhã cả. Thật kỳ lạ, khi thầy “đi” rồi, tôi lại có ý định muốn nói chuyện với thầy. À, nhớ có lần tôi có nói chuyện với thầy, đó là lúc thầy la “mấy nhỏ” (các em oanh vũ) không được đi dép lên sân trước chánh điện, tôi nghe thầy la vậy nên vôi vàng nhắc nhở các em và nghĩ sao thầy “dữ” quá. Lúc đó, tôi mới làm huynh trưởng nên cũng sợ lắm, sau này hông dám cho các em ra chánh điện nữa. À, mà như vậy có phải là một cuộc trò chuyện không nhỉ? Chưa hẳn, tôi cảm thấy mình “vô duyên” khi cảm thấy thương tiếc một người mà chưa có dịp thân cận nhiều, nhưng tại sao tôi vẫn thấy mất mát? Mấy năm gần đây tôi mất nhiều người thân, nên tin báo tử đến với tôi, tôi không bị sốc nhiều so với lần đầu tiên tôi nghe tin ngoại mất. Tôi đón nhận tin báo tử như một điều đương nhiên trong cuộc sống, như trên tay cầm một tấm thiệp hồng, như tôi vẫn thường hay hát nghêu ngao “đời người như án mây trôi, phiêu bồng vô định có rồi lại không, đã sinh ra chốn hồng trần, mấy ai tránh khỏi đôi lần tử sinh…” để nhắc nhở mình dành nhiều thời gian hơn cho người sống.

Viết đến đây tự nhiên nghẹn ngào xúc động, bóng thiền nhân quen thuộc của gia đình tôi, của má tôi, của chị tôi, đã không còn nữa. Và cái vị ở bên trời kinh đô ánh sáng Paris kia cũng đang chẳng khỏe mạnh gì, sao những người tôi yêu mến, quý trọng đều lần lượt…?!

Đến tiễn đưa thầy tôi mới thật sự khẳng định và giải tỏa mối nghi ngờ trong lòng, đó là thầy chính thật đúng là anh của thầy Nhất Hạnh, với phong cách thư pháp của những chữ trên tấm liễn chia buồn và sự hiện diện của đạo tràng Mai thôn, tôi mới xác nhận điều đó. Thật là có những chuyện “chết mới biết” chắc chắn J Tôi bật cười khi nhớ đến trường hợp tương tự mà chị bạn kể cho nghe, giả bộ làm đám ma cho ông chồng khi ông chồng đi công tác xa, mới biết ông chồng có bồ nhí, vì cô bồ nghe ông ấy chết thì ẵm con đến tìm. Cái sự liên tưởng này, tôi không có ý nói là thầy chết rồi tôi mới biết, nhưng chỉ là khẳng định một điều mà tôi không thể nào tin được vì thầy Nhất Hạnh và thầy Như Thích, sao khác xa nhau quá? Làm sao là bà con? Chỉ vẻ mặt giống nhau thôi, nhiều khi người giống người cũng được. Mặc dù, chị Minh Hương nói cho tôi biết và còn mỉa mai bằng câu nói “tiền hô hậu ủng” như tôi đã ghi ở trên, nhưng không hiểu sao tôi vẫn còn hoài nghi. Đến hôm nay thì hết hoài, hết nghi rồi. Thầy Như Thích đã trả lời cho tôi rồi đó, trả lời bằng một sự kiện của vô thường, hữu hình – hữu diệt. Khi biết rồi thì nếu được chọn, tôi muốn chọn cuộc sống thanh bần như thầy, thầy đã làm “thân giáo” cho rất nhiều Phật tử trong chùa Hưng Long (nay là chùa Hưng Quốc của chúng tôi) cũng như cho rất nhiều Phật tử biết đến thầy. Thân giáo, một trong những phương pháp giáo dục trong gia đình Phật tử. lấy mình làm gương để các em noi theo.

Thầy thong thả, thảnh thơi bước đi trong một ngày nắng đẹp, có “mưa hoa” (là Gia đình Phật tử chúng tôi tung hoa đó! J), có tiếng kệ kinh và dòng người đưa tiễn.

Thiền nhân nay “về trời phương ngoại” như đạo tràng Mai thôn đã thành kính tiễn đưa.

Gia đình Phật tử, những người áo lam chúng con cũng vậy, xin cung kính tiễn đưa thầy.

Ngày nắng tháng tư năm Bính Thân,
                                                                                                       
                                                                                                                  _(())_ Phước Định

March 14, 2016

THIỀN BIỂN


Từ lâu, tôi đã muốn đi thiền hành trên biển khi thấy hàng dài đoàn Phật tử đi thiền hành dọc bờ biển theo thầy Chân Quang trong đoạn phim pháp thoại của thầy, rồi các bạn Người Áo Lam của tôi cũng có buổi thiền tập trên bãi biển mà lúc đó tôi không tham gia được. Tôi đã dự tính chắc mình phải sắp xếp đi dự khóa tu của thầy để được đi thiền hành trên biển… Tôi muốn được đi thiền hành trên biển như các Phật tử, như các bạn áo lam của tôi mà chưa có dịp.

Sớm hôm nay như một thuận duyên, tôi được hân hạnh dẫn đoàn thiện tài đi thiền hành trên biển, mỗi một bước chân là một câu niệm Phật. Lúc đấy tôi không nghĩ gì hết, chỉ niệm Phật và chú ý vào bước chân của mình, à, mà còn phải chú ý về điểm đến là cái nhà màu vàng vàng (nơi sẽ là trạm kế tiếp của các em- Trí Tuệ giới), số là đang đứng vòng ngoài trong khi các em đang nghe anh trại trưởng nói về thập nguyện Phổ hiền và ý nghĩa của việc thiền hành thì anh Đời sống trại đến nói tôi lát dẫn các em đi thiền hành, vừa nói anh vừa dẫn tôi ra chỉ cho tôi lộ trình đi thiền hành, cho nên đi thì đi nhưng mà cũng phải chú ý điểm đến.

Chúng tôi đi trong tiếng “nhạc nền” là tiếng sóng biển rì rào, có lẽ là vì cát biển mịn màng nên không nghe tiếng chân các em bước, cả tiếng chân tôi bước cũng hông nghe, vừa chắp tay, niệm Phật, vừa bước đi chầm chậm, thỉnh thoảng tôi quay nhìn về phía biển, biển trong xanh, trời trong xanh, những cơn sóng nhẹ lăn tăn, tiếng sóng vỗ nghe không lớn lắm. Bầu không khi như còn vương chút hơi sương của buổi bình minh khi mặt trời chưa ló dạng. Tôi nhìn biển phía xa, những con sóng nhấp nhô, hết đợt này đến đợt khác, thấy những bạn đứng phía xa đang đợi ở “Trí Tuệ giới”, à, rằng đây là thật: tôi đang đi thiền hành trên biển mà không chỉ có một mình tôi mà còn cùng với hơn một trăm anh chị em áo lam khác nữa. Một niềm hỷ lạc cho một ngày an lành. Có vẻ như biển biết chúng tôi đi thiền hành nên sáng nay vỗ xa bờ một chút, nhường chỗ cho đoàn “Thiện Tài” bước từng bước chánh niệm đầu tiên trên con đường đi tìm đạo.

… Bạn có thể có những ước mơ, và hãy cứ hướng về những mơ ước ấy, cho đến một ngày nhân duyên hội đủ, hữu duyên, thuận duyên, trợ duyên, hay duyên duyên gì đó, ước mơ của bạn sẽ thành hiện thực vào những lúc mà bạn không ngờ tới được.

Cuối cùng, tôi cũng đã thực hiện được niềm mong muốn của mình, thiền hành trên biển hay nói ngắn gọn là Thiền Biển…

Mùa trại họp bạn Trúc Lâm 6

_(())_ Phước Định

November 26, 2015

Hoi Ton pagoda, Ben Tre city, Mekong delta, Viet Nam.


Hội Tôn là một ngôi chùa cổ của thành phố Bến Tre, qua khỏi cầu Bến Tre đến ngã tư đầu tiên là đường vô chùa, còn phải đi ngang qua khu công nghiệp Giao Long rồi quẹo tay trái vào, ngang qua công trường đầy cát bụi, bây giờ chắc đỡ bụi rồi vì tới nay cũng đã hơn hai năm kể từ ngày Gia đình Phật tử đến tham quan chùa nhân trại từ thiện ngành Nữ Quảng Đức, vào đến con đường đất (không biết bây giờ đã tráng nhựa chưa?) thì một không khí trong lành khác hẳn với cái bụi mù trời ở ngoài kia, một bên là nhà dân, một bên là cây xanh, đồng ruộng, cũng có nhà nhưng nhà bên tay phải thì nhiều hơn nhà bên tay trái, hình như người ta đang quy hoạch gì đó. Tôi đọc nhiều bài viết về chùa, thấy thường viết về lịch sử, niên đại chùa được xây dựng từ hồi năm nào, trùng tu năm nào (nếu có), rồi chùa được công nhận di tích vào năm nào, … Tôi không muốn viết ra đây dài dòng chi tiết, không khéo nó trở thành một bài “lịch sử chùa Hội Tôn” mất. Tui muốn viết về chùa theo sự quan sát của mình và cảm nghĩ của các chị em Người Áo Lam (vì là trại của ngành Nữ mà). Tôi cũng không muốn viết về trại từ thiện này, chỉ xin đề cập đến vì đó là nhân duyên cho tôi có cơi hội đi bộ (đoạn từ đầu đường khu công nghiệp đến chùa), một đoan đường đất tương đối dễ đi và không xa lắm cho chị em vừa đi, vừa ngắm cảnh vừa chụp hình, có cả quay phim nữa. Nhờ vậy mà cảm nhận được không khí làng quê, đường mòn với cây xanh bóng mát, hàng dừa nghiêng nghiêng, một số chị lớn tuổi đi bộ bị mệt, mấy bạn Thiếu Nữ xúm lại dìu đi và các bạn khác thì đi chậm lại để đợi và cũng là tranh thủ chụp hình, đoạn đường nắng nóng mà hông ai thấy nóng. Cổng vào chùa là cổng tam quan bên tay phải, đi vào chừng ba mét thì có một cái cổng nữa, bước qua cổng đó thì bạn mới thật sự tới chùa. Cũng như cách bố trí của nhiều ngôi chùa khác ở Việt Nam, vừa qua cánh cổng tròn nhỏ hơn cổng tam quan, chúng ta sẽ thấy ngay tượng Quan Âm thờ ở sân chùa mà người ta hay gọi là Quan Âm Lộ Thiên, ngài đứng đó, chiếc áo choàng bay phấp phới, nụ cười hiền hòa nhìn chúng sanh là chị em Người Áo Lam đây, khi nghe các chị em hình như không để ý đến ngài mà cứ đi “săm soi” cái chánh điện của chùa. Chánh  điện được xây nổi trên một tòa sen có thể nói là khổng lồ. Nghe má tôi kể lại là chùa được xây dựng theo như trong giấc mơ của thầy trụ trì, lúc đang xây chùa, thầy nằm mơ thấy chùa như vậy nên quyết định “biến giấc mơ thành hiện thực”. Bao quanh chánh điện là dòng nước trong xanh, để ngày rằm hay lễ tết, thầy tổ chức thả hoa đăng, thay vì bậc thềm bình thường của một hồ nước thì thầy xây nhưng các cánh sen xen kẽ nhau, chánh điện chùa là tâm sen, nhìn xa thì chùa như đang nổi lên từ một hồ sen lớn, còn nhìn từ trên xuống, tôi nghĩ chánh điện chùa như một đóa sen nghìn cánh, tối thầy cho thắp đèn sáng lung linh rất đẹp. Bên trong chánh điện, trên trần là hình ảnh của các vị Phật, bồ Tát, La hán, có bát tiên, có mây bay, như là cảnh nơi Phật quốc. Đó cũng là cảnh mà thầy đã thấy trong giấc mơ, có vị thầy thấy thầy xây chùa như vậy nên “báo mộng” cho thầy xây chùa theo kiểu như vậy, và với kiến thức của một người biết về xây dựng, thầy đã hiện thực hóa cảnh mà thầy thấy trong giấc mơ mà vị thầy trong mơ bảo thầy xây, làm chị em chúng tôi đến như lạc vào cõi Phật vì nó không như cách bài trí chánh điện của những ngôi chùa khác. Quả là không bõ công ngồi xe hơn tám mươi cây số và là một “quyết định sáng suốt” khi xong việc từ thiện ở chùa Phật Minh rồi nhất định qua thăm viếng chùa Hội Tôn này. Tôi không biết vì sao chùa tên Hội Tôn, tự dựng đi về, cảm khái làm mấy câu thơ, viết ra đây cho các bạn “đọc chơi”:

(Từ)... Hội bàn đào, ta trở lại,

Tôn Ngộ Không nay đã khác xưa rồi

Tự thiền môn đắc Đấu Chiến Thắng Phật...

Thiền môn của thầy thật đẹp, thật yên tĩnh, kế bên chánh điện hoa sen (tui mạn phép gọi cái chánh điện vừa kể trên là chánh điện hoa sen), thầy đang xây một cái hồ hình vuông, chính giữa là bệ thờ tam thế Phật, đường qua bái Phật là những lá sen và cánh sen bằng xi-măng- có lối vào Bát Chánh- là những con đường nhỏ mang tên Chánh Định, Chánh Kiến, Chánh Tư Tuy, Chánh Tinh Tấn, Chánh Mạng, Chánh Nghiệp, Chánh Niệm, Chánh Ngữ, thầy ghi trên bảng tên đường, chữ trắng, nền xanh, làm người Áo Lam đọc thấy như là đi trên miền tịnh độ. Phật pháp thể hiện một cách sáng tạo và có lẽ là đầy ngụ ý, vì đường nào cũng về Bát Chánh về nơi tam thế Phật quang.

Tôi không nhớ chùa có thờ Đấu Chiến Thắng Phật không, nhưng mà cái tên chùa gợi lên nhiều liên tưởng. Hôm đi tiền trạm trời mưa tầm tã, cứ sợ đến ngày đi từ thiện mà mưa thì không biết chỗ đâu mà chơi với các em ở chùa Phật Minh và thăm chùa Hội Tôn. May sao, trời nắng tốt, mấy chị em chụp hình cũng nhiều lắm, có quay phim về phát hành đĩa lưu niệm nữa. Nhớ nhất cái đoạn thầy trụ trì chùa Hội Tôn bảo rằng Gia đình Phật tử tụi con có cái vinh hạnh là mang tên của một vị bồ tát (gia đình mà chị em người áo Lam tui tôi đang sinh hoạt gọi chung là Gia đình Phật tử Quảng Đức)… Cái điều này nghe thầy nói tôi mới nhận ra và thấy thật là hân hạnh, khi chúng tôi được thầy khuyên dạy Phật pháp, khai mở cho nhiều điều về hoạt động của gia đình Phật tử.

Chùa Hội Tôn ở Bến Tre, ngôi chùa nằm trên cánh hoa sen giữa lòng thành phố xứ dừa. Một nơi rất đáng để chiêm bái và tự hào về kiến trúc đình chùa Việt Nam. Địa chỉ ư? Bạn cứ Google sẽ có ngay địa chỉ cụ thể, tôi không tiện nêu ra đây vì tôi đã nói rồi. Tôi viết về ngôi chùa này vì ai đến cũng trầm trồ ấn tượng về cảnh quan của chùa và cũng để cho bạn có chút tò mò, nếu có lòng thành và thật sự quan tâm thì phải bỏ thời gian tìm hiểu thêm.

Phần thưởng sẽ là một chốn thanh tịnh, khung cảnh vừa hiện đại, vừa cổ xưa, vừa “thần tiên” nữa chứ, cứ như là:

HỘI bàn đào, ta trở lại,

TÔN Ngộ Không nay đã khác xưa rồi

TỰ thiền môn đắc Đấu Chiến Thắng Phật.
-Diệu Hoàng- từ Virginia

*Nếu bạn vẫn chưa tìm được địa chỉ thì xin liên hệ Người Áo Lam, bạn nhé! Chúc bạn chuyến hành hương vui vẻ!


May 25, 2015

BÀI GIẢNG VỀ BẾP LỬA

Hôm qua, anh Quảng Lợi cho các em chơi trò chơi, đầu tiên là nói các vật dụng trong nhà bếp cho người bên phải mình, sau khi hết một vòng, sẽ hỏi ngược trở lại người bên trái mình và câu trả lời của người bân trái sẽ là món đồ trong nhà bếp đó. Trò chơi nhằm có những câu hỏi và câu trả lời dí dỏm tạo tiếng cười hóm hỉnh, ví dụ như: bạn đang ngồi trên cái gì? – Trên bếp điện từ. Bạn chải đầu bằng gì? – Bằng cái muỗng,… Nhưng sau đó, các câu trả lời hầu hết đều là bếp ga, bếp ga, mặc cho câu hỏi là gì đi nữa câu trả lời như một mẫu số chung: Bếp ga, không nói về việc các em chưa biết đặt câu hỏi cho đúng mục đích gây cười, nhưng nói về vật dụng nhà bếp, chao ôi, sao mà “nghèo nàn” quá, chỉ là bếp ga, lò vi sóng, chén, đũa,… Vậy ra bếp của các gia đình ngày nay là thế, các em đâu có biết thế nào là tro, là củi lửa, là bếp than hồng, là khói cay mắt bà và mẹ khi đun bếp, cái thời của “khói lam chiều” hình như đã qua rồi, hay chỉ còn trong sách vở hoặc là trong tâm tưởng thế hệ 8X chúng tôi, nó làm cho các em không có nhiều vốn từ về nhà bếp. Vì nhà bếp hiện đại sang trọng bây giờ là thế, chưa nói đến sang trọng, chỉ là bếp ga đã quá phổ biến, bây giờ ai xài lò (bếp) dầu nữa, ít nhất cũng là bếp ga, khá hơn nữa là bếp từ, bếp điện, cũng phải thôi vì nghiên cứu cho thấy khói bếp có thể làm gây ung thư, ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe, nghĩ mà thương các em, sự hiện đại làm các em không biết và những danh từ thuộc về nhà bếp hình như không tồn tại trong đầu các em, viết tới đây nhớ cái ống tròn tròn dài dài dùng để thổi lửa, cho tro than trong bếp cháy bùng lên, hồi nhỏ, có một vài lần được quan sát người ta đun bếp như thế, chứ thời của chúng tôi cũng đã “sung sướng” không phải lui cui dưới bếp như thế hệ mẹ và chị ngày xưa, nhưng những gì của một bếp quê nghèo, chắc phải gọi là bếp quê nghèo thôi, vì nó không có lò vi sóng, máy rửa chén hay thiết bị hiện đại nào hết, trộm nghĩ, chẳng lẽ “dàn dựng” một “cái bếp ngày xưa” và hướng dẫn, nói cho các em nghe về “cái bếp”, “bếp lửa hồng ấm áp, thắp sáng từ tay mẹ hiền…” chứ không phải lửa xanh, lửa đỏ bật lên từ khí gas trong cái ống dẫn gas vô tri, vô giác. Cái chái bếp mà nhiều thế hệ đã lớn lên từ đó, đi xa mấy cũng nhớ về, có mùi rơm rạ, củi lửa, dừa khô, cỏ khô, bất cứ thứ gì có thể nhóm bếp để dành cho mẹ, cho chị làm bếp, thổi lửa, nấu cơm, còn có cây quạt bếp, một cây đũa bếp (đũa cả), thầm nghĩ có nên chăng đưa vào chương trình “thường thức” một bài giảng về “cái bếp” để các em thấy được thế hệ đi trước đã “sống” như thế nào, đã trải qua khó khăn như nào để giờ đây đứng trước các em truyền trao Phật pháp, hướng dẫn Chuyên môn. Âu cũng là một cách tăng vốn từ cho các em, mở rộng sự hiểu biết mà chưa chắc những đứa trẻ đến trường được học, chỉ những em đi sinh hoạt Gia đình Phật tử được học thôi! Xa hơn nữa là giữ gìn giềng mối dân tộc, cái truyền thống làng quê Việt Nam với hình ảnh khói bếp bay bay, khói lam chiều ngày xưa của me, của anh và của chị, xuất hiện không ít trong những hình ảnh quảng cáo du lịch Việt Nam.

Đạo Phật gắn liền với dân tộc, với quê hương, đất nước, trong đó có không thể thiếu cái bếp than hồng. ‘Ký ức về cái bếp than hồng’ nghe nó ‘xuôi tai’ hơn là, ‘ký ức về các bếp điện từ’! Nói vui thôi chứ làm sao bằng cái ánh lửa nhóm lên từ tình thương của mẹ, của cha, hay của sư chú, của thầy nấu cho tụi con trong trại Anoma Niliên-Tuyết Sơn vừa rồi ở Trà Vinh- “chái bếp hiên sau cũng ngọt ngào một lời cho nhau”- câu chuyện Pháp đàm trong khi làm bếp rôm rả và sôi nổi. Cái bếp than, tạm gọi là bếp than vậy, chắc bây giờ chỉ còn tồn tại ở một số chùa, hoặc vài căn hộ như nhà tôi, vẫn còn giữ lại cái bếp lò, chụm củi, uống nước dừa xong, chặt vỏ ra, phơi khô để dành nhóm lửa, như giữ một phần hồn quê giữa lòng phố thị.

Và niềm băn khoăn có nên đưa bài giảng ‘cái bếp’ vào chương trình thường thức, vẫn là một ý nghĩ chợt lóe lên khi “bức xúc” về cái bếp… Cám ơn trò chơi của anh Quảng Lợi, cám ơn các em đã tham gia trò chơi, mong qua những dòng này, các em hiểu thêm về “cái bếp”, sẽ cảm nhận trọn vẹn hơn khi có dịp ngân nga hát bài “Bếp lửa hồng của mẹ”.

Viết xong ngày 25 tháng 05 năm 2015 (mồng 8 tháng tư PL 2559) tại Sài Gòn


Phước Định