March 04, 2025

VÔ TÌNH

Vô tình uống một tách trà

Vô tình thức cả đêm mà không hay

Vô tình nắm một bàn tay

Vô tình lỡ nhịp con tim mất rồi!...

  1. Thơ tình mình viết cho mình,

"Rinh" đi đâu đó thì (nhớ) ghi rõ nguồn, thank you :-)

December 30, 2022

Jan-25-2017, from a balcony after raining in Sai Gon, Viet Nam... ☁️🌦🌧⛈💧💦☔️🌧

After a rain in an afternoon, a few days before lunar new year, the year of the dog...

https://youtu.be/HXj_7spwe4I


Listening to the rain in an afternoon in Sai Gon, Viet Nam Jan-25-2017... ☁️🌦🌧⛈💧💦☔️🌧


 The rain in 2017, more than 5 years ago now... A few days before lunar new year, year of the dog 2018.

August 07, 2021

BA TÔI VÀ TIỆM ĐÁ DƯƠNG CẨM THÀNH

Lời tự sự: tự nhiên tôi chợt nghĩ và liên tưởng tới truyền thuyết kể rằng, khi người cá bị tình yêu phản bội thì sẽ hóa thành bọt biển, ba tôi hay khi con người ta ngừng thở thì hóa thành tro bụi… Còn cái nghề khắc chữ mộ bia đá thì đã thực sự mai một ở Sài Gòn…

***

… Gan bảo rằng: “Tôi mệt quá, đi nghỉ ngơi đây. Phổi, ông cứ từ từ thở đi nhé!”. Phổi nhìn lên sống mũi: “Tui cũng mệt quá rồi! Não ơi! Anh liệu mà xem nhé, tui cũng đi “nghỉ ngơi” đây”… Thế là khoảng bốn giờ chiều ngày hôm ấy, ba tôi nngừng thở, ngủ một giấc trưa và không bao giờ tỉnh dậy, Não bảo rằng: “Thôi, tôi cũng chẳng còn thiết tha suy nghĩ nữa. Gan, anh ấy đã “đi” rồi, cô Phổi xỉu theo, van Tim đóng lại, Máu ngừng chảy, những liều albumin không vực nổi anh Gan...”. Ba tôi bảo rằng: “Thôi, anh (Não) đừng cố, tụi nó không về được thì thôi! Mà dịch bệnh vậy, tui cũng không muốn tụi nó về, về cũng bị cách ly, trong khi tui càng ngày càng không muốn động đậy, chả trách người ta hay nói lờ đờ như người không thiết sống, ăn cũng ăn chẳng được nhiều, để tôi chợp mắt cái đã.” Nào ngờ cái chợp mắt này của Ba khi mở mắt ra là Ba đã ở một thế giới khác rồi.

Ông tổ trưởng nhắn tin thông báo trong nhóm chat tổ 27 nhà tôi chia buồn. Thời buổi công nghệ và do đang cách ly vì dịch bệnh, tin nhắn chia buồn của “xóm trưởng” này làm nhà tui cũng cảm động quá, tổ dân phố cũng có quan tâm. Ba tôi con đàn cháu đống, tám đứa con, bảy đứa cháu, mà khi “ra đi” thì chỉ có một đứa con và hai đứa cháu cùng với hai đứa cháu ruột dư MiSu MiSa. Ngày đám ma MiSu Misa được cột nơ trắng loanh quanh lẩn quẩn bên chỗ ông Ngoại nằm, đằng trước có lư hương.

Cú Lũ là bạn làm ăn, bạn vong niên của ba. Chú ghé lo mấy thủ tục đám ma, chú và ba tôi chắc làm cùng hợp tác kinh doanh từ lâu lắm, nghe chị tui báo tin, khoảng mười phút sau ổng đã có mặt ở nhà tôi lo tang sự, ổng đến trước, mấy “người lính” của ổng đến sau, Ba tui “đi” rồi, ổng mất đi một mối làm ăn. Hồi xưa, khi ông Bún mất, ba có qua đi đám ma, ông Bún là người chuyên coi ngày tháng để chôn cất, ông Cú Lũ là chuyên lo đám ma, Ba tôi là chuyên làm mộ bia, hũ cốt. ông Cú Lũ đi làm đám mà có đám nào muốn làm mộ bia thì giới thiệu qua Ba tôi, mà muốn coi ngày giờ nào hạ huyệt tốt hay ngày giờ gì đó thì ba tôi đi kêu ông Bún. Giờ kể ra đấy thấy bộ ba này làm ăn thật là lâu năm uy tín, giờ chỉ còn ông Cú Lũ. Người mà khi Ba tôi ngưng thở, tôi mới biết tới ông ta, qua lời kể của chị Tư còn ở Việt Nam. Ba mất còn mình chị ở Việt Nam handle (lo sắp xếp) hết mọi chuyện. Ba mất sau khi chị và hai cháu với nhỏ em họ mang ba đi tắm rửa cho mát mẻ sạch sẽ.

Con viết lại đây những dòng này kính dâng hương hồn ba. Chị Hai và chị Ba khóc nhiều nhất. Mấy đứa còn lại thì mếu. Hai đứa cháu gái thì sợ, không dám nhìn ông ngoại mặt xanh mét qua màn hình. Thằng cháu nội thì: “Ông nội, ông nội ngủ kìa!”

Tôi không biết bây giờ là ngày tháng năm nào, mấy giờ mấy phút mấy giây, tôi chỉ biết hôm nay tôi chính thức trở thành đứa trẻ mồ côi… cha… Tôi không khóc nhưng nước mắt rơi suốt đoạn đường từ nhà ra trạm xe buýt, sao cảnh vật nó cứ nhạt nhòa. Ba tui mất mà tui không được ở nhà đưa đám, vẫn phải đi làm như mọi chuyện vẫn bình thường, giờ mới hiểu tâm trạng của chị bạn khi ba chỉ mất năm ngoái, cũng vì bệnh già, nhưng do Covid-19 nên chỉ cũng không về được.

Em bảo: “Người làm mộ bia đá lâu năm nhất ở Sài Gòn đã mất”. Chị tôi bảo: “Ừ”. Chẳng biết ai có còn để ý một cái tiệm kinh doanh mộ bia đá, hũ cốt, khắc chữ mộ bia. Chữ Tàu, người Hoa đặt Ba tôi làm nhiều lắm vì chữ viết đẹp, hồi đó đâu có máy tính font (kiểu) chữ Tây, Tàu như bây giờ, tới khi có vi tính vi tiếc, Ba tui cũng làm theo mẫu vi tính, nhưng chữ Hoa viết tay của chú tôi khi đi nước ngoài viết để lại, người ta thích hơn và Ba tôi vẫn còn dùng cho tới ngày nay. Chữ viết tay in lên đá rồi theo nét đục ra hoặc khắc lên. Có lần bạn tui ghé nhà, nó thấy tui đeo kiếng bảo hộ, đục một tấm bia, đó là tấm đá hoa cương 40 x 60 cm thôi, nó ngạc nhiên, tui nói có gì đâu này cũng đâu có khó mấy, đục theo viền nét chữ, …,  nhưng tui ngưng lại vì nó đến nên tui phải ngưng làm để tiếp nó. Lần đó hình như là vì làm không kịp, với tui cũng rãnh nên phụ Ba đục tấm bia.   

Tôi đã từng nghĩ làm một website, trước đó là in danh thiếp bằng tiếng Anh, Ba cũng đi in bằng tiếng Anh, mặt trước tiếng Anh, mặt sau tiếng Hoa, rồi sau đó tôi định làm một website nữa cho tiệm đục đá nhà mình để quảng cáo, rồi marketing đi tư vấn cho người ta, nhưng nghĩ đến chuyện người ta đang đau buồn mà mình cứ nói chuyện bia mộ, rồi nghe chuyện người ta kể về người chết, vì có những tấm mộ (hàng làm xong, khách chưa đến lấy nên còn dựng ở trước nhà) tôi thấy tuổi đời còn rất trẻ, nhưng không dám “chê khen” mặc dù tấm bia không có hình, chỉ nghĩ trong đầu: oh người này mới hai mươi tuổi. Còn với những tấm bia bảy mươi, tám mươi tuổi thì tôi coi đó chuyện bình thường vì già rồi thì phải chết. Trời ơi, đầu óc lúc đấy đơn giản nghĩ như vậy đó… Tôi cảm thấy mình đi tư vấn món hàng mà người ta đang có tang như vậy thiệt là không nỡ, việc này giống như việc kinh doanh trên nỗi buồn của người khác, tôi lại hay mủi lòng trước những mất mát như vậy. Giống như hồi trước tôi làm cho một đại lý vé số, tôi gọi công việc đó là: kinh doanh sự may mắn của người khác, còn giờ việc kinh doanh của gia đình là: kinh doanh trên nỗi buồn của người khác. Tôi cảm thấy tôi làm không được, với lại tôi thấy ba không có ý muốn mở rộng kinh doanh gì hết, chỉ vậy thôi. Có mấy người khách từ Campuchia sang đặt hàng với Ba, cũng có những người khách đi xế hộp tới nói chuyện mộ bia với ba cả buổi trời; tôi nhìn chiếc xe hơi lạ lẫm, ông khách hào hứng chỉ cách cái xe đóng cửa lại, dạng cửa lùa, lần đầu tiên tôi thấy cái xe hơi cửa lùa tự động đóng lại, sau này thì không còn lạ gì nữa rồi. Ba có những người khách đặc biệt, đa số là người Hoa: người Tiều, người Quảng, người Hẹ, ... Ba tôi biết nói tiếng Phúc Kiến, tiếng Thượng Hải, tiếng Tiều (đương nhiên rồi). Vậy mà con ổng có được có một đứa nói rành tiếng Hoa 😊 Khi Ba “đi” rồi, trong nhà không một đứa nào nối nghiệp Ba. Có lần tôi đi ngang Bình Hưng Hòa, thấy có tiệm đề bán mộ bia đá gì đó, tò mò ngoảnh lại xem thấy trưng bày đồ cũng giống giống nhà mình bán. Vậy là Sài Gòn cũng có tiệm bán chứ nhà mình không là duy nhất, nhưng họ bán chứ có biết làm đâu, làm ở đây là đục đẽo khắc chữ đó các bạn ạ! Nhà tôi thì là vừa làm (sản xuất) vừa bán, chỉ có hũ cốt là Ba mua ở Bình Dương về để bán thêm thôi vì có một thời gian có nhiều người ghé hỏi mua hũ cốt.

Khi Ba mất rồi, thì cái nghề này cũng theo ba mà đi, giống như món bánh bò “độc chiêu” của Ngoại. Không biết có ai nhận ra Sài Gòn có tiệm (đục) đá? Không biết thằng bạn hôm nào nhìn thấy tui đục đá, có tình cờ đọc được những dòng này và nhớ ra Sài Gòn hồi xưa đường “chồng của bà Âu Cơ”, có mội cái tiệm làm mộ bia đá, có con nhỏ bạn cầm cây búa với cây đục khi nó đến tìm, chứ không phải đọc sách hay nghe nhạc như mấy cô nàng khác. Có lẽ, mà chắc nó chẳng còn nhớ đâu vì sau đó hình như nó “bỏ chạy mất dép” rồi vì con Nga “hiền lành” vậy mà cầm cây búa với cây đục, nghĩ cũng nghĩ không ra sao hai cái hình ảnh đó ghép lại nó không ăn khớp (ra nhỏ Nga) chút nào 😊

Năm ngoái (2021), tôi về nước đi uống cà phê với bạn, thấy quán cà phê gần bên cái chùa to đùng, ghi chữ Thảo Đường Thiền Tự, về kể với Ba, Ba nói toàn bộ chữ trong đó là ba (thầu) làm hết, Ba đưa hình trong iPad cho tui coi, là đúng thiệt, cái chùa to đẹp ghê, tui tự hào, một cái dự án to đùng như vậy, ba đâu có cần phô trương cho ai biết để “câu dẫn” khách hàng. Con gái nói thì bà chỉ cho coi. Giờ nghĩ lại, có lẽ là dự án lớn và cuối cùng trong cuộc đời của Ba, là những gì Ba để lại, vì Ba đi thì Ba không có để lại gì cho tụi tôi gọi là kỷ niệm sâu sắc. Giờ mà tui có về Việt Nam, tui sẽ ghé Thảo Đường Thiền Tự, sờ lên từng mặt chữ mà Ba tôi đã miệt mài làm khi đang thực hiện dự án, mà tưởng niệm về Ba. Tui không cần ai biết là tiệm đá Dương Cẩm Thành đã thi công phần chữ chạm trổ/ khắc cho cái thiền tự đó. Tiệm đá Dương Cẩm Thành đã không còn truyền nhân. Từ đây, trang sử ba đời kinh doanh mộ bia đá đành khép lại. Tụi con sẽ nhớ Ba, Má sẽ nhớ Ba, con thỉnh thoảng sẽ nhớ tờ giấy trắng in tiêu đề Tiệm đá Dương Cẩm Thành Sai Gon Cho Lon (*) vừa chữ Hoa vừa chữ Việt.

Ba rất yên tâm về tụi con, đúng không? Cho nên mới nhắm mắt mà chẳng chờ đứa nào về? Chẳng có nuối tiếc ai, chẳng la hét giành quyền sống với tử thần. Nhắm mắt xuôi tay đúng nghĩa và theo thứ tự sinh – lão – bệnh – tử.

Nghĩ cũng lạ, mấy lần trước tôi có công chuyện về Việt Nam thì cũng nhằm lúc có việc đi dự đám tang người thân của bạn bè, người quen; một lần là đám tang bà ngoại của bạn tôi; lần kia là đám ma một em Oanh vũ Nam Gia đình Phật tử Chánh Định; lần vừa rồi là đi đám ma giùm chị tôi, rồi là lo phụ tang lễ của thầy Quảng Độ. Vậy mà đám ma của Ba tôi, tôi lại không được… Trong khi đó, một người bạn của chị tôi mới biết gần đây lại có duyên hỗ trợ chị tôi lo ma chay này nọ ở bên kia bờ đại dương. Đúng là nhiều khi phải có duyên mới được…

Ba có nhớ món cháo sườn Hai Bà Trưng con mua cho Ba? Bún mắm Phú Bình, hủ tíu Nam Vang mé Nguyễn Tri Phương quẹo vô, còn có hủ tíu hồ gì đó mà Ba chỉ con vô lộn tiệm?! Bánh lá liễu Ba hay mua ở gần nhà bạn con? Rồi cơm gà Thiên Thiên, hủ tíu xào? Ba có nhớ con chở Ba đi đem đồ cho chị Tư lúc chỉ đi Indonesia về bị cách ly? Ba coi chừng xe, còn con chen vô xếp hàng để đưa đồ cho chỉ? Ba có nhớ… Ba trên bàn thờ nhìn ra hàng hiên, chiếc đèn kéo tang đong đưa theo gió, màn mái hiên có ghi chữ tiệm đá Dương Cẩm Thành bay phấp phới… Cát bụi… Trở về thôi…

 

Virginia, cuối hạ, đầu thu tháng 8 năm 2021,

Các con và Má đồng kính tiễn đưa Ba

Diệu Hoàng- Người Áo Lam viễn xứ kính ghi.

(*) Sai Gon Cho Lon là chữ không dấu chứ không phải tui gõ thiếu dấu, hồi nhỏ cứ không hiểu cứ đọc là Cho Lon (Sai Gon thì biết là Sài Gòn rồi), không biết chữ đó là cái gì và không biết chỗ đó ở đâu và tại sao lại ghi như vậy, lớn lên một chút mới biết là chữ Chợ Lớn và vì cái form đó là từ thời ông nội truyền lại nên cứ theo vậy, không có ghi dấu!

 

 

December 30, 2019

Translated quote from original of Mo Dao Zu Shi

"Mỗi ngày chính là mỗi ngày" // Every day means every single day (!!!)

Translated quote from original of Mo Dao Zu Shi

- Nga Duong - 

Inspiration from a Facebooker "Ba nghìn một chiếc chén xinh xinh"...

"Three thousand (dong) a cute Zhan"

Ba đồng một mớ đàn ông
Đem bỏ vào  lồng cho kiến nó tha
Ba trăm một mụ đàn bà
Đem về mà trải chiếu hoa cho ngồi

Ba nghìn một chiếc chén xinh xinh
Đem bỏ vào bình Thiên Tử Tiếu
Mang về cất ở Vân Thâm...


Ôi trời ơi! Chén Bác...

- Nga Duong -

November 20, 2019

The Untamed - Grandmaster Of Demonic Cultivation - Mo Dao Zu Shi


(Vietnamese fan-translation) Here is the endnotes from the author (Vietnamese version is right after the following English version.

Source: https://exiledrebelsscanlations.com/gdc-chapter-126/

Quote***
Endnotes

From the author:
When it comes to this book, I can’t even summarize all of the stories surrounding it in seven entire days. Even its publication process was filled with twists and turns, taking more than half a year to finish. Right now, the first volume is finally born, and it just so happened to coincide with its third anniversary. With this opportunity, I put pen to paper and wrote this special little note for it, for the sake of commemoration.
For an author, when you want to look back on your journey, the work itself is more meaningful than the diary. I was still studying when I planned out this novel and started writing when I graduated. Even now, I sometimes reminisce about the early days when it had just begun to serialize. I didn’t earn much, but the writing process was easy and relaxed, indeed an excellent condition for creativity.
Speaking of it, that was also the first time I consciously planned out my characters. Full of enthusiasm, I wrote over a thousand words of I-don’t-know-what for each of the two main characters, Wei WuXian and Lan WangJi, though I don’t know where they went. Now that I think about it, it was quite a pity, really.
The greater pity was the first version of its outline, almost ten thousand words. I had a habit of deleting the outline as I went, just like checking off every task from a to-do list. It gave me a refreshing sense of satisfaction, and thus, I didn’t back it up.
I’ve said before that I originally wanted to write a story of cold-blooded revenge and triumphing over the scum, but for some reason, the outline became more and more miserable. I think that perhaps it was because nobody likes to be hurt, but I have a thing for people with scars.
—”Stories only scars can tell.”
Back when I was young, I especially loved those who are full of scars and stories, and I thought I could be like them—I’d keep going even as knives cut into my skin, never turning back and never looking down. And when I grew a little older, I was even more in love with them. It was because I discovered that they were even firmer and stronger than I had imagined.
I traveled by words, covered in the dust of the journey. Too many things have happened. Too many people have come and gone. No matter the misconceptions, the accusations, or even the impossibly-wounding pain, I’ve encountered them all along the way. But let me borrow a quote from Mr. Wei WuXian, “It’s only another life experience. It’d be a conversation starter when you grow older.”
Perhaps when I’m older, I’d fall in love with writing about young, carefree characters. But when the time comes, I hope that it’s not because I miss my past youth, but rather because no matter how many years have passed, no matter when, no matter where I’ll always be young at heart!
Without care for anything at all, I shall give the entirety of my soul to the pen and the paper.
I no longer like to tell my readers, ‘I love you.’ These words are too light, and yet these words are too heavy.
I hope each of you who enjoys this book
can be like Lan WangJi in virtue and Wei WuXian in character.
P.S. I received the help of many in the publication process.
Thank you Jinjiang, thank you Motie, thank you Sichuan Literature and Art Publishing House.
Thank you, my two editors, Xingzhou and Yuheng.
And thank you, my two friends, Changyang and cas.
Mo Xiang Tong Xiu
2018.10.31
Unquoted***
Vietnamese version (fan-translated)
GHI CHÚ CỦA TÁC GIẢ

Khi nói đến quyển sách này, tôi thậm chí không thể tóm tắt tất cả nhưng câu chuyện xung quanh nó trong toàn bộ bảy ngày. Ngay quá trình xuất bản của nó đã đầy những khúc mắc, mất hơn nửa năm mới hoàn thành. Ngay bây giờ, bản đầu tiên rốt cuộc đã ra đời, và nó chỉ vừa mới tình cờ trùng hợp với kỷ niệm lần thứ ba của nó. Với cơ hội này, tôi đặt bút lên giấy và viết ghi chú nhỏ đặc biệt này cho nó, vì mục đích kỷ niệm.

Đối với một tác giả, khi bạn muốn nhìn lại hành trình của bạn, bản thân tác phẩm thì ý nghĩa nhiểu hơn là quyển nhật ký. Tôi còn đang đi học khi tôi lên kế hoạch cho tiểu thuyết này và bắt đầu viết nó khi tôi tốt nghiệp. Thậm chí bây giờ, đôi khi tôi vẫn nhớ những ngày đầu khi nó chỉ mới khởi sự nối tiếp nhau. Tôi không kiếm được nhiều (ý tưởng), nhưng quá trình viết thì dễ dàng và thư giãn, thực sự là một điều kiện hoàn hảo cho sự sáng tạo.

Nói về nó, đây cũng là lần đầu tiên tôi có ý định lên kế hoạch cho các nhân vật của mình. Đầy nhiệt huyết, tôi đã viết hơn ngàn chữ mà tôi-không-biết-cái gì cho mỗi hai nhân vật chính, Ngụy Vô Tiện và Lam Vong Cơ, mặc dù tôi không biết họ đã đi đâu. Giờ tôi nghĩ về nó, thật đáng tiếc, thật sự.

Đáng tiếc lớn hơn là dàn bài phiên bản đầu tiên, gần một ngàn chữ. Tôi có thói quen là xóa dàn bài khi tôi đi, giống như là đi kiểm tra từng nhiệm vụ từ danh sách việc-cần-làm. Nó mang lại cho tôi cảm giác tươi mới của sự hài lòng, và vì thế, tôi đã không sao lưu nó. 

Tôi đã nói trước đó rằng tôi nguyên lai là muôn viết một câu chuyện về sự trả thù máu lạnh và sự chiến thắng những kẻ cặn bã, nhưng vì một số lý do, dàn bài trở ngày càng trở nên khốn khổ. Tôi nghĩ rằng có lẽ bởi vì không ai thích bị tổn thương, nhưng tôi có một điều với những người có sẹo

--- “Những câu chuyện chỉ có những vết sẹo mới có thể kể lại được”

Trở về khi tôi còn nhỏ, tôi đặc biệt thích những người mà có đầy sẹo và những câu chuyện, và tôi nghĩ tôi có thể giống họ - Tôi sẽ vẫn cứ thích ngay cả như dao cắt vào da, không bao giờ quay lại và không bao giờ nhìn xuống. Và khi tôi lớn hơn một chút, tôi thậm chí yên thích họ nhiều hơn. Đó là bởi vì tôi phát hiện ra rằng họ kiên định hơn và mạnh mẽ hơn tôi từng tưởng tượng.

Tôi du hành bằng những con chữ, bao phủ trong bụi của hành trình. Quá nhiều thứ xảy ra. Quá nhiều người đã đến và đi. Bất kể những quan niệm sai lầm, những lời buột tội, hay thậm chí những nỗi đau không tưởng, tôi đã từng gặp phải chúng trên đường đi. Nhưng hãy để tôi mượn câu nói của Ngụy Vô Tiện: “Nó chỉ là một kinh nghiệm sống khác. Nó sẽ là một cuộc trò chuyện bắt đầu khi bạn già đi”.
Có lẽ khi tôi về già, tôi sẽ yêu thích viết về những nhân vật trẻ trung, vô tư vô lo. Nhưng khi tới lúc đó, tôi hy vọng không phải là vì tôi nhớ thời tuổi trẻ đã qua, mà là bất luận bao nhiêu năm trôi qua, bất luận khi nào, bất luận nơi đâu, tôi sẽ vẫn luôn trẻ trong tim!

Không quan tâm đến bất cứ điều gì nữa cả, tôi sẽ dành trọn tâm hồn cho bút và giấy

Tôi không còn thích nói với độc giả: “Tôi yêu các bạn”. Những từ này quá nhẹ, song cũng quá nặng.

Tôi hy vọng mỗi bạn, từng bạn thưởng thức quyển sách này

Có thể giống như Lam Vong Cơ về đức hạnh và giống Ngụy Vô Tiện về nhân cách.

Tái bút: tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ trong quá trình xuất bản

Cám ơn Jinjiang, cám ơn Motie, cám ơn nhà xuất bản văn học nghệ thuật Sichuan

Và cám ơn hai người bạn của tôi, Changyang và Cas.

Mặc Hương Đồng Khứu ~ Mo Xiang Tong Xiu

31.10.2018.

September 26, 2017

THE SOLEMN PRAYERS ~ LỜI KHẤN NGUYỆN

Homage to All The Dharmas
Homage to All The Sanghas
May our requests be granted
May our prayers be accepted
Due to our whole-heartedness

May our endless veneration
To offer all Buddhas in the universe
Last longer and be greater
Than any mountain or ocean

May our loving-kindness
Be ever lasting
To spread all over realms
To send to all living beings

May all sentient beings
Live with mutual affection
Without envy or htred
Without war or killing

May wrong doers believ in
The karma law and its fairness
Then they will repent of thier sins
Through remorse and good deeds

May the blind be able to see
The deaf be able to hear
May the poor be warm and full
The ill be well and healthy

May all in the animal kingdom
And such forms of ignorance
Be reborn as human beings
Who will cultivate Buddhism

May hungry ghosts stop rambling
In their famine-stricken situation
May the dead get salvation
And take the refuge in The Triple Gems

May beings fallen in the nether world,
Which are tortured by just punishment,
Be able to raise great compassion
The only way to remove miseries

I kowtow to The Buddhas
Boddhisattvas, Saints and Sages
May You bring sacred teachings
To awaken all sentient beings

Please help us in coming lives
No matter where we are born
To grasp holy and noble teachings,
To follow the right cultivation

Please help us to behave modestly
To have deep respect for everyone
To efface ourselves is necessary
'Cause our cultivation is lacking

Please help us be generous
To share and make offerings
To support and love all
Especially those in great need

Please help us to be calm
In the face of adversity
Either receiving reprimands
Or being damaged by trickery

Please help us be joyful
On seeing other's success
Or other's god deeds
As if they were ours

Please help us remain silence
Not talk of other's faults
But quietly kneel to pray
That they no longer err

Please help us to free
From fetters of pleasure
So that our small heart
Can learn to love all

Homage to All The Buddhas
Suffering has been plenty
Through countless lives and deaths
There is only tiredness and bitterness

Today, we vow to return
Toward true deliverance
To win perfect wisdom, away from ignorance
And lead beings to The Noble Path

Please help us to hold firm
Our determination to cultivate Dharma
With diligence every hour
Never wasting even one minute

Please help us to nurture virtue
With profound contemplation
And superlative wisdom
To sweep away egoism

Please help us to be mindful
Not be arrogant
To realize our shortcomings
Though advance in cultivation

We vow to keep on
Not to stay at the halfway point
Until we reach the peak of attainment
As The Buddha's Insight

We pledge to come back
As a heart-felt devotion
We pledge to make Buddhism
Really spread world-wide

Homage to All The Buddhas
May my prayers be granted
May my wishes come true
As offered to The Triple Germs

NAMO SAKYA MUNI MUNI BUDDHA
Kính lạy Mười Phương Pháp
Kính lạy Mười Phương Tăng
Xin chứng giám lòng con
Với tất cả tâm thành
Dâng lên lời khấn nguyện

Xin cho con mãi mãi
Lòng tôn kính vô biên
Hơn núi biển mông mênh
Dâng lên Mười phương Phật

Xin cho con mãi mãi
Lòng thương yêu không cùng
Trải thế giới tam thiên
Đến chúng sinh vô tận

Xin cho khắp muôn loài
Sống yên lành bên nhau
Không ganh ghét oán thù
Không chiến tranh giết chóc

Xin cho kẻ bất thiện
Biết tin có luân hồi
Có nghiệp báu trả vay
Để hồi đầu hướng thiện

Xin kẻ mù được sáng
Kẻ điếc lại được nghe
Kẻ nghèo được ấm no
Kẻ ốm đau bình phục

Xin cho loài cầm thú
Thoát được nghiệp ngu si
Tái sinh vào cõi người
Biết tu theo Phật pháp

Các vong linh vất vưởng
Trong cõi giới u huyền
Thoát nghiệp đói triền miên
Quy y và siêu thoát

Xin cho nơi địa ngục
Chúng sinh đang đọa đày
Khởi được tâm từ bi
Để xa lìa cảnh khổ

Cúi xin Mười Phương Phật
Chư Bồ Tát Thanh Hiền
Đem chánh pháp thiêng liêng
Sáng soi nghìn thề giới

Cho chúng con mãi mãi
Dù sinh về nới đâu
Đều gặp pháp nhiệm mùa
Để nương theo tu tập

Cho con biết khiêm hạ
Biết tôn trọng mọi người
Tự thấy mình nhỏ nhoi
Việc tu còn kém cỏi

Cho tay con rộng mở
Biết san sẻ cúng dường
Biết giúp đỡ yêu thương
Đến những người khốn khó

Xin cho con bình thản
Trước ngịch cảnh cuộc đời
Dù bị măng bằng lời
Hay bằng điều mưu hại

Xin tâm con sung sướng
Khi thấy người thành công
Hoặc gây tạo phước lành
Như chính con làm được

Cho con biết im lắng
Không nói lỗi của người
Chỉ lặng lẽ dùng lời
Cầu cho người hết lỗi

Xin vòng dây tham ái
Rời khỏi cuộc đời con
Để cho trái tim con
Biết yêu thương tất cả

Cúi lạy Mười Phương Phật
Đau khổ đã nhiều rồi
Vô lượng kiếp luân hồi
Đắng cay và mỏi mệt

Nay con dâng lời nguyện
Giải thoát, quyết tìm về
Giác ngộ, quyết lìa mê
Độ sinh, đền ơn Phật

Xin cho con giữ vững
Được chí nguyện tu hành
Không một phút buông lơi
Không một giờ xao lãng

Xin vẹn toàn giới hạnh
Với thiền định lắng sâu
Với trí tuệ nhiệm mầu
Xóa tan dần chấp ngã

Xin cho con tỉnh táo
Không kiêu mạn tự hào
Dù tu tiến đến đâu
Cũng tự tìm chỗ dở

Nguyện cho con đi mãi
Không đứng lại giữa đường
Đến tuyệt đối vô biên
Tâm đồng tâm chư Phật

Rồi trong muôn vạn nẻo
Của sinh tử luân hồi
Con mãi mãi không thôi
Độ sinh không dừng nghỉ

Cúi lạy Mười Phương Phật
Xin chứng giám lòng con
Lời khấn nguyện sắc son
Dâng lên ngôi Tam Bảo

NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

May 19, 2017

LỜI CẢM TẠ CỦA THUYỀN NHÂN

Headnote:

I 'take note' this poem not only because of the content but also because of the Vietnamese literature...

***

Chúng tôi: người Việt Nam tị nạn
Bỏ nước, đau lòng, vượt biển sang dây
Sóng dập gió vùi, trăm nỗi đắng cay
Mất triệu lìa quê, bao người bỏ xác?
Quê hương tôi, xưa thanh bình hoan lạc
Bỗng một ngày phải tan tác đau thương
Kẻ chết, người tù, già trẻ vượt đại dương
Cho nước mắt thành sông?
Biển Đông pha máu?
Chết vẫn ra đi, dù chưa biết nới nương náu
Sinh tử cận kề, kinh hoàng cũng đành cam
Thế giới thương tâm, cứu vớt thuyền nhân
Cho chúng tôi tự do, cơm no áo ấm
Già trẻ được học hành, săn sóc, yêu thương
Chẳng lo gió rét (1) bốn mùa sương tuyết
Bốn chục năm dài một thưở bình an
Người Việt Thuyền Nhân, đôi khi vẫn khóc
Vì thương nhớ quê nhà, non nước thưở xa xưa
Một thời chiến tranh, một thời máu lửa
Có mồ mả ông cha, chan chứa nghĩa tình
Quê tuy nghèo nhưng ân nghĩa keo sơn 
Vẫn lệ nhỏ những đêm buồn trăn trở 
Mấy chục năm qua chúng tôi vẫn nhớ
Bát cơm xưa Xiếu Mẫu: trả ngàn vàng
Xin gửi lên đây: lòng tri ân cao nhất
Tới tất cả ân nhân: hợp chủng quốc Hoa Kỳ
Tới các nước bạn Á, Âu, Canada, Phi, Úc, ...
Ân tình này một thưởi khắc trong tim
LÀ HOA THƠM NGÀO NGẠT KHẮP THẾ GIAN
NỞ RỰC RỠ NGÁT HƯƠNG TÌNH NHÂN LOẠI

PHX. HOÀI HƯƠNG

Trích tạp chí Bút Tre số ra tháng 11/ 2016, bộ 15, quyển 11, www.buttre.org

***
The original word is "sương", but allow me to edit by the word "rét" to make it better. 

This poem express the gratitude of a Vietnamese 'boat people', a nice traditional of Viet Nam, drinking the water, remembering the source of that water.

Typed and posted in May-18-2017 by Nga


May 18, 2017

A VIETNAMESE DREAM: A MISSING CHANCE - GIẤC MƠ NƯỚC VIỆT: MỘT CƠ HỘI BỎ LỠ

Headnote

Dear friends and readers,

Thank you for dropping by my page. I would like to upload this post because I feel this is a general and equal view re Vietnamese history, I am half Vietnamese and I am interested in history. To me, history was so bored when I was in high school. It turned to be interesting by the time I grew up and gradually know another hidden face re the Vietnamese history I was taught while sitting on the school-chair. I do not dream to be a history teller, I would like to share "the knowledge about the past of a country in the entering-life-baggage" for the next generation. Write to this line, I suddenly think that somehow the past is not the history, and the history someway is not really the past... Here is the "Vietnamese dream- a missing chance" (the words in bold is the one I would like to 'note').

*** 

Những ngày cuối tháng mười đầu tháng mười một luôn luôn là một thời gian gợi nhớ đối với một số người Việt tha hương lớn lên trong những năm 50-60 muốn ôn lại lịch sử để còn có thể xác định được nhân dạng của mình. Dĩ nhiên, giữa các thế hệ luôn luôn có những khoảng cách (nếu không đã không có chữ "generation gap") khiến cho già trẻ ngày càng xa nhau, nhưng lịch sử vẫn có thể có tác dụng làm con người đến được với nhau nếu có một nền văn hóa dân tộc khuyến khích người ta bao gồm kiến thức về quá khứ của đất nước trong hành trang vào đời của mình (Lời người post: tác giả dùng từ "quá khứ" của đất nước chứ không phải "lịch sử đất nước"). Đáng ngại thay đó chỉ là điều mơ mộng hão huyền trong thời đại ngày nay thế giới toàn cầu hóa đang lâm vào thế tuyệt vọng bế tắc, tuy không hẳn cùng đường; nơi nơi đang khủng hoảng vì lịch sử bị mất giá! Ví dụ như đối với phần lớn người Việt thời nay tuổi dưới 60 chẳng hạn, tức sinh sau năm 1956, chỉ nói những người có phần nào ý thức tha hương mất nước, làm sao họ có thể có khái niệm được chuyện gì đã xảy ra cách đây 60 năm nếu họ không hiểu được năm 1956 là thời điểm nền Đệ nhất Cộng hòa chính thức ra đời với bản hiến pháp 26/ 10/ 1956, chỉ để tự vẫn 9 năm sau với biến cố "Cách mạng 1-11" - một cuộc "cách mạng" mà ngay từ trong trứng nước cũng chẳng ai màng nói đến. Thế nhưng nếu những thế hệ sau này thực sự muốn hiểu "ai đưa tôi đến chốn này", họ cần hiểu câu chuyện phần nào bắt đầu chính từ đây; chẳng phải đợi đến cuộc tổng tấn công của Việt Cộng năm 1968 làm cho Hoa Kỳ, nước đồng minh "bảo trợ" cuộc chiến đấu chống Cộng của nhân dân miền Nam bao nhiêu năm trước đó, "trở mặt", hiệp định Paris vào tháng giêng năm 1973 chính là hồi chuông báo tử của kế hoạch Việt Nam hóa chiến tranh của Nixon, và phải chăng biến cố tháng tư năm 1975 chỉ là "coup de grâce" sau Watergate?

Ngày nay, chỉ những người trên 70 đã thực sự sống dưới thời Đệ nhất Cộng hòa (1955 - 1963) mới có thể "kể chuyện đời xưa" cho con cháu, và chắc chắn những người "bình thường" đều có thể nhìn lại giai đoạn đặc thù đó một cách trung thực và thành tâm, tránh được cách nhìn một chiều và thành kiến có tính tôn giáo chỉ đưa đến sự bế tắc trong nhận thức. Trung thựcđúng với sự thật của lịch sử, và thành tâmnỗi ngậm ngùi chung về một thời đã mất hẳn không còn cách nào cứu chuộc được. Với sự liêm chính trí thức đó, người ta có thể mơ màng nói được quá khứ có lúc đã đẹp đẽ đến mức nào, và đau buồn khi nhớ lại những cơ hội đã bị bỏ lỡ khiến lịch sử đã tàn nhẫn xoay chiều, làm cho đất nước của chúng ta tan nát, lạc hậu như hiện nay. Nếu nhìn lại lịch sử không làm cho chúng ta gần gũi lại và nhìn nhận chúng ta chung nhau một số phận mà lại chỉ kích thích hay tạo nên những sự phân hóa, chia rẽ giả tạo, vô ích , đó chính là sự ngu xuẩn của những kẻ phản dịch và lạm dụng lịch sử.

Lịch sử Việt Nam cận đại có thể tính bắt đầu từ cuộc xâm lăng của thực dân Pháp vào nửa sau của thế kỷ XIX dưới chiêu bài bảo vệ người truyền giáo và tín đồ Thiên Chúa giáo, áp đặt chế độ "bảo hộ" lên Việt Nam, ban đầu là cuộc tấn công vào hải cảng Đà Nẵng năm 1858 và kết thúc bằng hiệp ước Patenôtre (1884). Cũng chẳng nên trách gì thực dân Pháp: đó là thời đại các nước phương Tây đua nhau đi tìm thuộc địa khắp năm châu, đến nỗi Anh quốc vẫn được tiếng là một đế quốc mặt trời không bao giờ lặn vì nơi nào Anh cũng có thuộc địa. Sự chia cắt ba miền đã có từ đây, Nam Kỳ là thuộc địa, Trung Kỳ và Bắc Kỳ là xứ bảo hộ. dẫn đến một phong trào chiến đấu bất khuất chống ngoại bang đô hộ trên cả ba miền của đất nước trong suốt 70 năm sau đó. Đệ nhị thế chiến đã mở ra một chương mới khi mặt trận Việt Minh của những người Cộng sản đã lợi dụng tình thế quân phiệt Nhật đầu hàng để nổi dậy làm cuộc "cách mạng tháng tám", cướp chính quyền và tuyên bố độc lập (02/ 09/ 1945). Tuy nhiên, Pháp theo chân quân Đồng Minh (trong đó có cả quân Trung Hoa của Tưởng Giới Thạch) trở lại ngay sau đó tìm cách lấy lại thuộc địa này, Việt Minh phải rút vào chiến khu mở ra cuộc kháng chiến tám năm, vẫn được gọi là chiến tranh Đông Dương thứ nhất, bắt đầu từ cuối năm 1946... Cho đến chiến thắng Điện Biên Phủ, một thung lũng tại tỉnh Lai Châu miền bắc, giáp giới Ai Lao (từ 13/ 03 đến 07/ 05/ 1954). Trong khi đó, hòa đàm Genève với sự tham dự của các đại cường (Mỹ, Liên Xô, Trung cộng, Anh. Pháp) vừa bàn về bán đảo Triều Tiên vừa bàn về bán đảo Đông Dương đã bắt đầu từ 26/ 04/ 1954 và kết thúc nhanh chóng vào ngày 20/ 07/ 1954, kết quả là sự chia cắt đất nước Việt Nam ra làm hai phần ở vĩ tuyến 17 - sông Bến Hải.

Cuộc chiến đấu thần thánh chống Cộng Sản (đúng là một cuộc chiến thần thánh khi chúng ta nhìn lại cuộc di cư vĩ đại của gần cả triệu người từ miền Bắc thoát vào Nam, nhưng tiếc thay chúng ta đã không cảm nhận đầy đủ ý nghĩa đó bởi ý thức giới hạn của những nhà tôn giáo, chính trị và nghiên cứu lịch sử thời đó) của người dân Việt Nam có thể nói bắt đầu từ hiệp định Geneve chấm dứt cuộc kháng chiến nói trên và tạm thời chia đôi đất nước, một tuyên cáo sau hiệp định có nói đến kỳ hạn tổng tuyển cử thống nhất hai năm sau đó (1956). Lịch sử chưa nói hết sự bạc nhược, ngu xuẩn và vô lương tâm của thực dân Pháp dưới thời thủ tướng Pierre Mendes France (ông này được Đảng cộng sản Pháp ủng hộ, nhưng chỉ cầm quyền được 8 tháng - 8 tháng của ông đúng là định mệnh của Việt Nam) khi tháo chạy và bất kể quyền tự quyết của hàng chục triệu người dân hai miền mà họ đã từng cai trị bao nhiêu thập niên trước đó, cho dù Mendes France vẫn tự hào đã buột Cộng sản phải chấp nhận cho người dân chọn quyề cư trú. Mỹ, nước cầm đầu thế giới tự do, thấm mệt sau chiến tranh Triều Tiên (1951 - 1953) cũng thiếu định hướng trong chiến tranh Đông Dương. Người dân hoang mang, dao động, nhưng cũng chẳng có phản ứng gì. Từ sự phân chia đất nước thành ba miền đã phát sinh tâm lý "khoanh vùng": người ở miền này xem người ở miền kia là "ngoại tộc". Cho dù đạt được chiến thắng tại mặt trận Điện Biên Phủ, Việt Minh Cộng Sản biết rằng không thể nuốt trọng ngay được tất cả đất nước cho nên tạm chấp nhận một nửa miền Bắc, tin rằng chỉ trong hai năm họ có thể nhuộm đỏ luôn miền Nam dễ dàng với cuộc tổng tuyển cử khi miền Nam này dân tình vẫn chưa ổn. Suy luận lạc quan này đã bị thực tế bác bỏ, khiến cho sau này họ phải tính đến chuyện phát động chiến tranh nổi dậy với lực lượng họ gài lại.

Thực tế là thực dân Pháp đã quá mỏi mệt và suy bại sau Đệ nhị Thế chiến. mở cơ hội cho "sáng dội miền Nam" - sự ấp ủ lần đầu tiên của toàn dân về một nước Việt hòa bình, độc lập, dân chủ và thịnh vượng, với "Bắc Trung Nam độc lập góp phần" trong cuộc "cách mạng quốc gia" mới. Trong thời chiến tranh, người dân quê thì lo chạy giặc, người đô thị sống trong hoang mang, nhưng không tưởng được thực dân Pháp, có Mỹ đứng đằng sau, có thể bỏ cuộc khi Việt Minh chỉ thực sự hoạt động ở chiến khu Việt Bắc giáp giới Trung Cộng. Người ta cũng chưa tưởng được bằng cách nào Việt Nam sẽ giành được độc lập quốc gia khi Pháp chưa hề thực tâm trả lại quyền tự chủ cho nước này. Và bỗng dưng, đất nước bị chia cắt, nền Đệ nhất Cộng hòa ra đời với sự đăng quang của tổng thống Ngô Đình Diệm vào ngày 26/ 10/ 1955 đã mở ra "The Vietnamese Dream" chưa từng có - bao nhiêu hy vọng, mong đợi ở một kỷ nguyên mới cho đất nước. Và tên tuổi của ông Ngô Đình Diệm gắn liền với một chương có tính cách khai quốc này của lịch sử - vào lúc đó có thể có người đã so sánh ông với tổng thống George Washington mở đầu thời lập quốc của nước Mỹ. Nếu như... Ôi, nếu như...

Hiện nay, có lẽ rất ít người biết đến giai đoạn chính trị của miền Nam vào lúc đó phức tạp, rối rắm, tan nát, nhiễu loạn, ly kỳ đến mức nào. Có biết chưa chắc đã nhớ. Có nhớ chưa chắc đã hiểu chính xác. Phải ít nhấ 70. Mà trên 70, còn bao nhiêu người. Bởi vậy lịch sử đất nước đang mất mát, mai một nào ai cảm thấy.

Trong cuộc chiến thần thánh chống cộng sản, suy cho cùng, chính ông Ngô Đình Diệm là người đốt đuốc dẫn đường. Trong bối cảnh chính trị không có lãnh đạo, nhiễu nhương ở miền Nam trong thời đó, đúng là điều kỳ diệu phi thường, khi ông Diệm đã lập được kỷ cương, trật tự chỉ trong một thời gian ngắn. Bất cứ một người nào khác có cơ hội lãnh đạo đất nước thời đó chắc chắn chẳng có sức hiệu triệu mạnh mẽ như ông Diệm. Khó có quyết tâm cùng đảm lược hành động, mở ra chương sử mới nhanh chóng như ông. Trong khi Cộng Sản chiếm được miền Bắc đã nhanh chóng ổn định chính trị để chuẩn bị cho cuộc tổng tuyển cử năm 1956 thống nhất đất nước, ở miền Nam hàng ngũ quốc gia tan nát và chính trị còn chưa xác định được thể chế quân chủ hay dân chủ, thuộc Pháp hay độc lập hoàn toàn. Có một quốc trưởng là Bảo Đại thì dù cho đất nước vừa bị chia cắt, chính trị miền Nam đang ở trong cảnh dầu sôi lửa bỏng. ngài vẫn chọn cuộc sống lưu vong bên Pháp, kẻ xấu miệng nói rằng hoàng thượng đã quen cuộc sống thụ hưởng ở thủ đô ánh sáng (nếu không nói là ăn chơi), để mặc cho chính trị nát bấy.

Ông Diệm, vốn là một quan lại cũ từ những năm 30, "treo ấn từ quan" có lẽ vì thấy triều đình "bất khiển dụng" và phải lưu vong vì chống Cộng, được Bảo Đại bổ nhiệm làm thủ tướng giữa khi ông đang ở Mỹ, ông trở về Saigon ngày 25/ 06/ 1954 và thành lập chính phủ đầu tiên sau hiệp định Geneve. Tuy nhiên, rõ ràng với sự chủ động của các anh em của ông trong nước, ông Diệm đã chuẩn bị từ trước cho ngày trở về, cho nên ông đã kiểm soát tình thế khá hiệu quả, chấp nhận những thách đố từ mọi phía: tay chân của Bảo Đại trong quân đội và chính giới Saigon; các thế lực tôn giáo địa phương như Hòa Hảo, Cao Đài; chính phủ Pháp không thiện cảm với chủ trương thoát ly ảnh hưởng Pháp của ông Diệm; và chính phủ Hoa Kỳ lo sợ ông Diệm không đủ hậu thuẫn chính trị ở miền Nam cho nên tình báo Mỹ cũng muốn tìm cách lật đổ ông!

Từ cuối năm 1954 đến giữa năm 1955, ông Diệm đã khởi công "bình định" các phe phái chính trị Hòa Hảo, Cao Đài ở miền Nam, Đại Việt và Việt Quốc ở miền Trung. Thử thách lớn nhất là cuộc nổi loạn của lực lượng Bình Xuyên ở ngay thủ đô Saigon đầu tháng Năm. Bảo Đại ở Pháp sợ ông Diệm "lộng hành", tìm cách can thiệp, từ tháng 4/ 1955 gọi ông Diệm qua Paris "triều kiến" nhưng cốt để cách chức ông. Bởi vậy, ông Diệm không đi, và bắt đầu công khai chống lại Bảo Đại. Ông Diệm cho dẹp luôn "hoàng triều cương thổ" trên cao nguyên của triều đại nhà Nguyễn. Cuối cùng, ông đã lật đổ Quốc trưởng Bảo Đại trong một cuộc trưng cầu dân ý vào ngày 23/ 10/ 1955 - một số tác giả Mỹ cho ràng cuộc bỏ phiếu này "đầy tranh cãi". Nhưng chính trị Việt Nam cũng có những lý lẽ riêng của nó mà lý lẽ của người phương Tây có khi không biết tới được. Thực sự trong tình hình đất nước như thế, ai thực sự quan tâm đến Bảo Đại? Tính đến tháng 07/ 1955, đã có gần 800,000 người từ Bắc di cư vào Nam tìm tự do. Đó là con số chính thức, chưa kể "diện bảo lãnh". Chính vì sự khác biệt lý lẽ Việt Mỹ này mà hai "đồng minh" đã lạc nhau trong cuộc chiến chống Cộng sau đó.

Những biến chuyển dồn dập nhưng nói chung có tính tích cực trong hai năm 1955 và 1956 (từ chấm dứt chế độ phong kiến của nhà Nguyễn được Phap bảo trợ, dẹp loạn trong nước từ Trung vào Nam, ly thân với Pháp, đón nhận làn sóng người di cư, không chấp nhận hiệp định Geneve và tổng tuyển cử, thiết lập chế độ cộng hòa với hiến pháp 26/ 10/ 1956, xác định mục tiêu chống Cộng trong đường lối quốc gia, ...) đã nhanh chóng thuyết phục chính phủ Eisenhower thay đổi thái độ. Ông Diệm trở thành sự lựa chọn tốt hơn cả hay đúng hơn là sự lựa chọn duy nhất, "lý tưởng" cho mục tiêu xây dựng tiền đồn ở Đông Nam Á của Thế giới Tự do trong cuộc chiến. Điều này rõ rệt trong thư gửi tổng thống Diệm vào ngày 27/ 10/ 1956, tổng thống Eisenhower viết:"Sự ngưỡng mộ tôi có khi theo dõi những tiến triển của Việt Nam Cộng Hòa trong năm qua đã khiến tôi gửi đến ngài những lời chúc mừng nhiệt tình nhất của người dân Mỹ trong dịp kỷ niệm năm đầu tiên của nền cộng hòa và hiến pháp Việt được ban hành. Người dân Mỹ đã theo dõi cuộc chiến đấu đáng nói của người dân Việt Nam trong những năm qua để giành và duy trì độc lập. Những thành công của Việt Nam Cộng Hòa trong ngăn chặn âm mưu gây hấn của Cộng Sản từ bên ngoài và vượt qua những chướng ngại khó khăn nhất bên trong đã cho thấy những gì có thể thực hiện được khi người dân một nước tập họp vì chính nghĩa tự do".

Trong thơ này, tổng thống Mỹ cam kết sự hỗ trợ tích cực của Mỹ cho công cuộc dựng nước, giữ nước Việt Nam độc lập, tự do, chống cộng, thịnh vượng của người dân miền Nam dưới sự lãnh đạo của tổng thống Ngô Đình Diệm. Vào tháng 05/ 1957, tổng thống Ngô Đình Diệm được tổng thống Eisenhower mời đến thăm nước Mỹ, sự đón tiếp trọng thị tổng thống Nguyễn Văn Thiệu sau này vẫn mơ ước, và đương nhiên chưa một ai ở Bắc Bộ Phủ dám mơ tưởng. Ông Eisenhower đón ông Diệm ngay tận chân cầu thang máy bay. (bức thơ đó như sau: Dear Mr. President: The admiration  with which I have watched the progress of the Republic of Viet-Nam during the past year prompts me to send to you the warmest congratulations of the American people on the occasion of the first anniversary of the Republic and upon the promulgation Vietnamese Constitution. The American people have observed the remarkable struggle of the Vietnamese people during the past years to achieve and to maintain their independence. The success of the Republic of Viet-Nam in thwarting the aggressive designs of Communism without, and in surmounting the most difficult obstacles within, have shown that can be achieved when a people rally to the cause of freedom. We in America pray that those now still living in the enslaved part of your country may one day be united in peace under the free Republic of Viet-Nam. The achievements of the Vietnamese people will long remain a source of inspiration to free peoples everywhere. As Viet-Nam enters this new period of national reconstruction and rehabilitation, my fellow countrymen and I are proud to be sharing some of the tasks which engage you. May the Vietnamese people inspired by your dedicated leadership and the high principles of their democratic institutions, enjoy long years of prosperity in justice and in peace. Sincerely, DWIGHT D. EIDENHOWER).

Bởi vậy, đối với người dân miền Nam, cái tết 60 năm trước, 1957-2017, là cái tết mơ mộng đầu tiên sau bao nhiêu năm sống chìm trong chiến tranh, loạn lạc, giặc giã và chịu mọi ách áp bức của một chế độ thực dân phong kiến.

Tết Định Dậu 2017 là cái tết đầu tiên người dân cảm thấy sự thanh thản, nhẹ nhành, an bình trong cuộc sống nhờ hòa bình đã lâu lắm, lâu lắm rồi, mới trở lại, tiếng súng đã ngưng và thay vào đó là tiếng pháo (hoa) chào mừng năm mới. Bao nhiêu thế hệ trước đó, nào có ai biết, cảm nhận được hòa bình là gì!

Tết Định Dậu là cái tết đầu tiên người dân cảm thấy được sống thoải mái trong một đất nước độc lập, tự do, dễ sống. Nếu chẳng thế, đã không có cả triệu người từ miền Bắc di cư vào Nam theo hiệp định Geneve 1954. Nếu chẳng thế, người ta đã không bỏ phiếu truất phế Bảo Đại. Thực sự là lần đầu tiên, người dân cảm thấy không phải sống dưới ách cộng sản và quân chủ phong kiến. Đối với phần lớn dân chúng, ông Ngô Đình Diệm cũng là một người lãnh đạo được kính trọng vì tiểu sử, vì cuộc sống, vì con người quốc gia, dân tộc, chống thực dân của ông. Và một điều quan trọng vô cùng, người ta tin tưởng ở sức mạnh chính trị của miền Nam bởi vì Hoa kỳ, nước lãnh đạo cả thế giới Tự do chống sự bành trướng của Quốc tế Cộng sản, đang sẵn sàng bảo trợ chế độ miền Nam như một tiền đồn chống Cộng ở Đông Nam Á.

Tết Định Dậu cũng là cái tết đầu tiên người dân ba miền Bắc - Trung - Nam thực sự sống chung với nhau, bắt đầu hiểu nhau và cảm thấy gần gũi với nhau. Người Nam vốn tính dễ dãi mổ rộng vòng tay, người Bắc nhìn miền Nam như "vùng đất hứa", người Trung từ Quảng Trị cũng vào Nam như vùng đất của những cơ hội. Điều quan trọng là trogn cuộc sống đang vươn lên, người ta nói chung cùng nhìn một hướng. Triển vọng kinh tế phát triển của miền Nam thể hiện đúng là "sáng dội miền Nam". Saigon là "viên ngọc trân châu của Á Đông, Saigon là nơi người viễn khách thường lui tới" - như bài hát ca một thời ca tụng "Hòn Ngọc Viễn Đông". Nông nghiệp, ngư nghiệp của vùng Cửu Long tiềm năng vô kể - như bài Tiếng Sông Cửu Long - Hội Trùng Dương của Phạm Đinh Chương (Nước sông dân cao. Cá lội ngù ngờ, nước xanh xanh lơ, bóng in cây dừa). Chưa kể đến khu vực đồn điền trà, cà phê, cao su ở miền cao nguyên và đất đỏ. Và Saigon, Biên Hòa đương nhiên là những trung tâm kỹ nghệ tiểu thủ công nghiệp sức phát triển có thể hàng đầu Đông Nam Á. Đời sống dễ dàng đến mức người ta bán trái cây một chục thường là 14-16 - ít khi 10 hay 12! (Lời người post: cái này, hồi tôi còn nhỏ, ở Sài Gòn: 1 chục là 10-12, về quê tôi: một chục là 14-16, đọc đến đây tôi mới hiểu vì sao, mỗi khi đi mua đồ, nhất là mua trái cây, tôi hay nghe Má tôi hỏi người bán: một chục 12 hay nhiêu? Bây giờ một chục chỉ là 10 thôi, tác giả à! Tại vì lúc đó tôi đi học tiểu học, được học là 1 chục là 10, mà sao Má còn hỏi vậy, trong lòng thắc mắc mà không dám nói, bẵng đi- có thể nói là- mấy chục năm, giờ mới hiểu tại sao... Giờ một chục được trả về nguyên lượng của nó là 10, đúng mà sao nghe không vui tí nào hả, tác giả ơi!...). Quan trọng hơn hết, viện trợ kinh tế của Hoa Kỳ có thể thúc đẩy nhịp độ tăng trưởng, đưa nền kinh tế miền Nam trở thành một trong những con cọp đầu tiên ở Đông Á. Thời đó, người ta không lo thất nghiệp. Không lo thiếu cơ hội. Không lo đời sống đi xuống. Có thể nhiều người tay trắng. Nhưng ai cũng mơ tưởng có thể làm nên. Ngay cả khi người ta phải đạp xích lô.

Bởi thế, đương nhiên phải có một "Giấc Mơ Nước Việt" trong mùa xuân Đinh Dậu năm dó. Một giấc mơ đổi đời. Những năm sau đó, giấc mơ ngày càng nung nấu, thể hiện trong những nỗ lực của chúng ta trong cuộc sống. Trong hình ảnh "sáng dội miền Nam". Trong giấc mơ Mộng Lành (Hoàng Trọng) giữa Xuân Miền Nam (Văn Phụng).

Thế nhưng giấc mơ đó, chúng ta đều hiểu, đã không thành.

Có lẽ vì chúng ta không thấy đường, nhiều người sau đó không nhìn chung về một hướng nữa. Cũng như trong biến cố mất nước 30/ 04, tất cả chúng ta đều phải chia sẻ và nhận phần lỗi lầm của mình, trong sự tan hoang của "Giấc Mơ Nước Việt" vì sự sụp đổ của nền đệ nhất Cộng Hòa, đừng nghĩ rằng có ai không có lỗi. Có thể kể đến tổng thống Diệm, hay em của ông, hay bà em dâu, nhưng đừng quên những nhà lãnh đạo tôn giáo vô ý thức, chẳng hiểu được giấc mơ của người dân và có khi còn lãnh cảm trước những cái chết, các tướng tá Tây không ra Tây, Ta không ra Ta, các trí thức thụ động, ngồi yên, không dám hiện hữu, ...

Và một phần lớn cũng vì những mô miền Bắc đã đắp trên suốt con đường chúng ta đi. Hà Nội trong những năm đó chìm trong nghèo đói và tan tác gia đình, xã hội vì "vô sản chuyên chính". Trong cơn ác mộng đó, họ nhìn đến cuộc sống miền Nam như thế, và đương nhiên có dư lý do để hãi hùng, phát sợ và nổi máu sát nhân. Tiếc rằng chúng ta không cảm nhận đúng mức mối đe dọa đó và ngay cả có người lãnh đạo cũng nghĩ rằng có thể nói chuyện được với bên kia.

Bây giờ, điều duy nhất chúng ta có thể nói: Once upon a time, we had a dream...

-Hoàng Ngọc Nguyên-

Trích báo Bút Tre số ra tháng 11/2016, bộ 15, quyển 11 www.buttre.org

***

Because I do not see it on the online version of But Tre magazine, I must type in Wordpad instead of sharing the link. Thank you for reading and sharing (if any), and thanks But Tre, thanks the writer Hoang Ngoc Nguyen.

Typed in May-11-2017, posted in May-18-2017 by Nga
                               

November 03, 2016

SƯ CHÚ LA HẦU LA

Ni sư Thích Nữ Giác Anh trước khi xuất gia là huynh trưởng đoàn trưởng đoàn La Hầu La (oanh vũ Nam) tại đơn vị Thiện Hoa Hai cách đây gần hai mươi năm. Liên đoàn trưởng Nam bây giờ là đoàn sinh ngày xưa của chị. Ni sư hiện nay là thạc sĩ Phật học và đang tu tập tại một ngôi chùa xa xôi, nơi có những con chuột túi thỉnh thoảng nghe tiếng chuông dừng lại ngó dáo dác... Truyện tranh Phật giáo: Sư Chú La Hầu La Và Cuộc Phiêu Lưu Của Cậu Bé Lưu (The Adventures Of Leo Rahula Leads The Ways, tác giả: S. Dhammika & Susan Harmer), nhà xuất bản Đồng Nai, là truyện được Việt dịch bởi ni sư, phát hành tại thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam. Kính đăng dẫn trên trang nhà Quảng Đức, chia sẻ với anh chị em như là chương trình 'vui học Phật pháp và trau dồi tiếng Anh', chỉ có một lỗi nhỏ (chắc do sơ suất khi in ấn, sắp chữ), là ở trang 12, chữ 'your' bị in nhầm thành 'ouyr', vì đã post lên rồi nên không sửa được (không kịp sửa) khi đọc, các anh chị em lưu ý giùm. Xin cám ơn và mời anh chị em đến với Lưu (Leo), một người bạn của La Hầu La và cuộc phiêu lưu của họ... để thấy rằng Phật giáo không chỉ có mặt ở nước nói tiếng Việt mà còn có mặt ở nước nói tiếng Anh ;)
À, phần tranh là mình không rõ của họa sĩ nào, nhưng mình thấy ảnh hưởng phong cách vẽ của nữ văn hào người Anh, Ms. Potter (Beatrix Potter), người đã tạo hình chú vịt/ ngỗng với cái khăn quàng trên đầu và con thỏ Peter (Peter Rabbit) ngộ nghĩnh. À, mà cũng có thể họa sĩ là một trong hai người S. Dhammaika hay là Susan Harmer, vì trong truyện không có in tên họa sĩ nên mình đoán thế. Thôi, anh chị em xem nhé!
_ (()) _
Viết tại Sài Gòn ngày 13/ 05/ 2013

October 02, 2016

NGHE TIẾNG CHUÔNG

Một buổi chiều, như những cư dân của thành phố xứ cờ hoa, tôi dắt bé Kayla- sáu tháng tuổi đi dạo- Kayla là tên của nàng chó giống bec-gie mà em họ tôi nuôi. Để dắt nó đi ra ngoài dạo và đi toilet, tôi phải thay đôi dép trong nhà đang mang bằng đôi giày ba ta, chứ nếu  mang dép kẹp bình thường đi ra ngoài với Kayla là bị nó kéo đi không kịp chạy, mang dép kẹp không chừng chân mình sẽ bị thương, với lại, mang giày thể thao để còn chạy nhanh theo kịp Kayla, nàng chó sáu tháng tuổi này thuộc giống loài thích khám phá, là giống “chó cảnh sát” cho nên, máu cảnh khuyển trong người nàng hoạt động ngay khi ra “hiện trường”, là khoảng vườn sát bên nhà chú tôi và các vườn cây hoa hai bên đường mà tôi sắp sửa dẫn nó đi đây. Cùng đi với tôi là đứa em gái út, nó mới đến đây (đến sống ở Mỹ) hơn hai tuần, em cũng giống tôi, xức kem chống nắng, đội nón, nhưng nó mang giày xăng-đan thôi, mặc dù nó cũng có đem theo đôi giày ba ta. Em là người thích nuôi và thương yêu, cưng chiều chó hơn tôi, nhưng em hông dắt Kayla đi mà nói tôi dắt đi nên tôi dành phải “nhận nhiệm vụ” cao cả này. Tay nắm dây dắt Kayla đi mà tôi phải dùng sức, luôn trong tâm trạng sẵn sàng để kéo nó lại vì nó rất hung hăng, hôm thứ hai, thím đã dẫn tôi và em gái cùng với em họ, cả thím nữa, học lớp huấn luyện chó. Kayla cũng học và nó rất thông minh, học mau nhớ, có điều cô nàng quá năng động cộng với “sức trẻ” mỗi lần thả ra là chạy xồng xộc trong nhà không phải chạy qua chạy lại bình thường như những con chó khác. Đeo sợi dây đeo cổ vô cho nó xong là cả một vấn đề, hai đứa tôi phải vật lộn với nó mới đeo vô được, thầy giáo nói vì nó rất “hăng” nên dây đeo cổ có thêm một đoạn dây nhỏ đeo vòng qua mõm nó để nó ‘calm down’ lại (kìm hãm tính hung hăng của nó lại), đeo được dây vào cổ và mõm nó rồi, phải “vất vả” lắm mới móc được cái dây dài dùng để dắt chó vào cái vòng cổ của nó, lúc đó là nó mới sẵn sàng và mình cũng sẵn sàng để dắt nó ra ngoài. Mở cửa sân sau ra là nó chạy vù vù, đánh hơi khắp mọi nơi, xả nước trong thân ra ở một gốc cây, sau đó là thả phân trong người ra ở một bãi cỏ, em gái tôi đem đồ nghề theo hốt (đồ nghề là một túi nilon và mấy tờ giấy báo), tôi thì lo nắm Kayla trông chừng nó, không cho nó xông vào người ta cũng như nương nương theo hướng chạy của nó để nó được chạy chơi mà mình cũng kiểm soát được nó.

Đi được một đoạn khá xa nhà tôi kêu nó Kayla ơi, đi về, nó nghe lời đi về không đi ngửi ngửi đánh hơi nữa mà băng qua bên kia đường quay đầu đi về. Đi được một đoạn lại nằm xuống, giống như là nằm dạ, đòi cho đi tiếp nữa, nhưng mà tôi bảo nó, thôi đi về Kayla, nó lại đi tiếp, rồi lại nằm dạ, hai ba lần như vậy cho đến khi đi ngang qua cổng sau của căn nhà đối diện xéo nhà chú tôi, thì cả nó và tôi đều nghe tiếng chuông, tiếng chuông ngân vang nghe rất là thanh tịnh trong không gian yên ắng. Kayla ngóng tai lên nhìn về phía sau hàng rào nơi phát ra tiếng chuông. Em tôi cũng nghe nữa, nó kêu lên:”Ê, có tiếng chuông kìa!”, chắc nó cũng ngạc nhiên như tôi, tôi nói: “Ừ, có tiếng chuông á, nghe như tiếng chuông chùa”, vừa nói tôi vừa phóng tầm mắt qua khỏi hàng rào của căn nhà để tìm chút gì đó mang dấu hiệu của tiếng chuông phát ra. Tụi tôi đứng đó nghe thì nghe rõ ràng là tiếng chuông,  thêm ba tiếng chuông liên tiếp nữa rồi ngưng,nghe như lắng lòng, như thiền trong một sát na.

Viết tới đây, tôi nhớ trong khóa tu “lắng nghe để hiểu, nhìn lại để thương” của thầy Nhất Hạnh ở thiền viện Bát Nhã, trong khóa tu có quy định bất cứ làm gì làm nghe tiếng chuông là ngưng mọi hoạt động, đến khi nào tiếng chuông ngân hết thì tiếp tục việc đang dang dở. Tôi không biết phương pháp tu như vậy để làm gì nhưng cũng làm theo, có lần chưa quen đang, vừa đi vừa kể chuyện cho mấy bạn khóa sinh nghe, tôi cứ mải mê kể, quên mất phải làm gì khi nghe tiếng chuông, mà cũng không để ý là có tiếng chuông nữa, tôi đi trước các bạn khóa sinh hồi nào hông hay đến chừng quay lại thì thấy các bạn ấy đang đứng lại đợi tiếng chuông dứt, các bạn nhìn tôi, cười, tôi cũng nhìn lại các bạn cười- ừ, mình đang tu tập mà.

Giờ ở đây, thành phố Alexandria này, hiếm họi hay họa hoằn lắm tôi mới nghe tiếng chuông thanh thoát như vậy mà không phải ở chùa hay thiền viện. Tôi cứ suy nghĩ tại sao thầy Nhất Hạnh “bắt” nghe tiếng chuông thì dừng lại, sau khi dút tiếng chuông thì “đi” tiếp? Tôi nghĩ, ví dụ hai người đang tranh luận, khi nghe tiếng chuông, biết dừng cuộc tranh luận lại, khi nghe dứt tiếng chuông, tôi nghĩ sẽ không còn cuộc tranh luận nào nữa vì hai “tranh luận viên” đó đã lắng lòng, đã suy nghĩ trong cái phút giây yên lặng đó, họ đã nhận ra lẽ đúng sai. Chúng tôi (tôi, em tôi và bé Kayla) cũng đứng yên một lúc phần là do tìm nơi nào phát ra tiếng chuông còn tôi, từ cái “đứng yên” đó, tự nhiên ngộ ra cái bài học từ cái “quy định” của thiền môn thưở ấy, hình như là vào năm 2008’, đến 2016’, mới hiểu ra vấn đề…

“Lắng lòng nghe, lắng lòng nghe

Tiếng chuông huyền diệu đưa về nhất tâm”
Virginia những ngày hè năm 2016’


_(())_ Phước Định

**Bài viết cho trang www.nguoiaolam.net, viết xong ngày 31/ 07/ 2016**

September 16, 2016

TRUNG THU

Tôi nhớ hoài tết trung thu của hơn hai mươi năm về trước. Đó là tối trung thu tôi được rước đèn trong sự yên lặng hầu như tuyện đối và ánh nến lung linh của những chiếc lồng đèn. Chúng tôi là những em thiếu nhi, những chú chim oanh vũ luôn ríu rít, khó mà bảo chúng tôi có thể giữ im lặng trong khoảng mười hay mười lăm phút. Vậy mà, buổi tối đó, sau khi hát vang bài “tết trung thu”, anh chị trưởng dắt chúng tôi đi rước đèn. Hình như chúng tôi đi ba vòng quanh chùa, không biết do sợ vì trời tối hay không, hay chúng tôi mải chăm chú vào chiếc lồng đèn của mình, giữ cho nó đừng tắt mà chúng tôi rất không hề nói chuyện một câu nào. Đi rước đèn trong yên lặng mà sau này tôi mới “vỡ lẽ ra” đó là rước đèn trong chánh niệm. Lúc ấy, tôi chỉ biết là đi rước đèn thôi, không mất tập trung vào những điều gì khác, từng bạn từng bạn cầm lồng đèn đi nối tiếp nhau cẩn thận không làm tắt đèn của bạn và cũng giữ cho đèn mình không bị tắt. Ước gì có một tấm ảnh lưu lại những giờ phút đó nhỉ?! Thời của chúng tôi, máy kỹ thuật số chưa phổ biến, hình ảnh không phải muốn là lấy điện thoại ra chụp ngay như bậy giờ, cho nên nó chỉ còn lại trong ký ức những anh chị em áo lam ngày đó, những ngày Gia đình tái sinh hoạt chuẩn bị chu niên lần thứ nhất. Rước đèn xong thì là phá cỗ, những chiếc bánh trung thu đủ hoa văn, tôi còn nhớ lúc đó tôi phụ cắt bánh dẻo và bánh trung thu để vào dĩa. Tôi không biết do anh chị trưởng nào làm, nhưng tôi không nhớ đã cắt làm đôi bao nhiêu cái bánh dẻo lẫn bánh trung thu để chuẩn bị cho buổi liên hoan. Người thì cắt trái cây, người đập đá pha nước. Tôi không nhớ rõ từng chi tiết, nhưng cái không khí trung thu và cái đoạn rước đèn quanh chánh điện là tôi nhớ nhất. Chúng tôi cũng có chơi trò chơi, đố vui trung thu. Ngày đó, bánh trái đâu có nhiều loại như hiện nay, quanh đi quẩn lại mùa trung thu chỉ có bánh trung thu, bánh dẻo, hình như có trái hồng nữa, chỉ đến mùa trung thu mới có trái hồng. Cả trái hồng bây giờ cũng hiếm thấy hơn hồi đó. Ngày nay, ngoài bánh trung thu còn có các loại kẹo bánh khác trông rất đẹp mắt và khá ngon, có bánh trung thu cho người bị máu cao, bánh trung thu cho người bị tiểu đường, … Tôi hông nhớ nước uống là gì, thập niên chín mươi chắc trà đá là chủ yếu, bây giờ có đủ các loại nước: nước ngọt Coca Cola, Pepsi, xá xị, trà chanh uống liền,.. Việc bàn luận cho các em uống nước gì, ăn gì cũng là một đề tài cho các anh chị em huynh trưởng đoàn là chúng tôi bây giờ mất khá nhiều thời gian để thống nhất. Nhớ ngày xưa, thức ăn đồ uống không đa dạng và phong phú mà “dzui”, đỡ mất nhiều thời gian tranh luận về cái sự ăn uống! Trung thu năm nay ở quê hương thứ hai này, tôi có thể thấy rõ ánh trăng, ánh sáng trăng mà thường xuyên bị những ngọn đèn của đường phố Sài Gòn làm lu mờ mất. Ánh trăng vàng tròn sáng rõ trên bầu trời. Tôi chợt nghĩ sao ngày nhỏ, lúc đi rước đèn quanh chùa, sao không ngước mắt lên nhìn trăng, mà lúc đó tôi có ngước nhìn lên ánh trăng không nhỉ? Tôi cũng không nhớ rõ. Mùa trung thu của Gia đình Phật tử nó không giống với những trung thu mấy năm trước mà lũ trẻ trong xóm tôi hay chơi. Nó cũng có rước đèn, có phá cỗ đêm trăng, chỉ khác chút là có những câu đố vui Phật pháp, những trò chơi Phật pháp, những bài hát trung thu mang đầy tình Lam, nào là “mời anh, mời chị đến với đoàn em, liên hoan trung thu súm (sum) vầy tình Lam…”. Lúc hát, anh trưởng dạy cho chúng tôi hát từ “sum” cao lên một chút nghe thành “súm”, nhưng mà có nghĩa là sum vầy. Anh dạy chúng tôi như thế. Trung thu năm đó, có lẽ là trung thu đầu tiên mà tôi được tham dự với Gia đình Phật tử. Cái không khí ấm cúng và chúng tôi đã vui chơi, ca hát thật nhiều, qua đó cũng biết thật nhiều các bài hát mới lạ về trung thu, ngoài cái bài năm nào cũng hát là “tết trung thu em đốt đèn đi chơi…”. Tôi còn nhớ vài bài nữa mà đoạn cuối là “đón mừng Vu Lan năm nay, đón mừng trung thu năm nay. Ư, quá là vui!”. Vui thật, cho nên sau hơn hai mươi năm vẫn không quên. Cái ‘một chút’ khác đó làm cho trung thu Gia đình Phật tử mang đầy đạo vị, giúp cho các em chơi mà học, học mà tu, tu mà sửa. Chắc hẳn các anh chị em áo lam ai cũng có một kỷ niệm Trung thu Gia đình Phật tử vui như vậy khi mới bắt đầu đi sinh hoạt. Nó mang ý nghĩa gần gũi với cuộc đời chứ không đứng ngoài cuộc đời như là một tôn giáo riêng, nó cho thấy Gia đình Phật tử không chỉ có tu học Phật pháp mà còn đem Phật pháp vào đời qua việc tổ chức liên hoan trung thu. Đó là dịp để các anh chị em cùng ngồi bên nhau, chuyền tay nhau chiếc bánh trung thu, ngắm nhìn những chiếc lồng đèn lung linh ánh nến, trò chuyện, nói cười, xem văn nghệ trung thu; là dịp để huynh trưởng và phụ huynh đoàn sinh có dịp gặp gỡ nhau và để phụ huynh hiểu biết thêm về những hoạt động của Gia đình Phật tử.

Những năm sau này, lồng đèn bằng giấy không còn nhiều nữa, Gia đình Phật tử vẫn tùy duyên tổ chức rước đèn trung thu cho các em, khuyến khích các em dùng lồng đèn có đèn cầy để cho buổi phá cỗ không bị lấn át bởi tiếng lồng đèn điện cứ phát nhạc khi mở đèn lên. Chiếc lồng đèn giấy từ từ còn lại trong cái xóm làm lồng đèn gần nơi tôi ở, trong cái đèn kéo quân mà mỗi đoàn dùng công xảo minh; thanh minh; nhân minh, làm nên dể đại diện cho đoàn của mình trong đêm trung thu. Chiếc lồng đèn giấy cũng còn lại trong miền nhớ nơi anh chị em áo lam đã từng là oanh vũ, cũng như còn trong tôi với cái buổi rước đèn trong chánh niệm…


Phước Định
(Viết xong ngày 14/ 8 AL, DL 2016, viết cho trang www.nguoiaolam.net)

August 12, 2016

CON NGỦ ĐI CON


… đớn đau ngoài kia, mình ba chịu được rồi (*)

Trên đây là tựa đề của một quyển sách viết về một người cha tâm sự với con, khuyên con những điều hay lẽ phải khi ông không có thể ở bên con từ lúc con chào đời tới lúc trưởng thành, đọc nó ta nhìn thấy một người cha rất thương con, muốn ở gần con mà vì một lý do nào đó, ông chỉ có thể viết cho con bằng “mẩu bút chì tí hin”“với tập giấy học sinh mòn cũ”, viết cho con và “cho cuộc đời nghiêng ngả ngoài kia”. Đọc nó, tôi cảm thấy, phải chi có một người cha như thế trong đời thực và ước gì hồi ở tuổi cậu bé này, mình đã được đọc nó, thay cho những lời khuyên dạy mà tôi không có được từ người cha quá ít nói của mình.

Tú- người cha trong sách đã giải thích với con rằng: “Vì nuôi một con chó, với nhiều người có thể là phiền phức, là tốn thời gian, là dơ bẩn căn nhà, nhưng đó lại là khi người ta bước đầu học cách để quan tâm, chăm sóc cho một sinh linh khác, yếu ớt hơn mình”. Ông kết luận: “điều quý giá nhất một chú chó có thể dạy cho mình, đó là sự bất biến của tình yêu và lòng trung thành vô hạn… Với chúng ta, chú chó nhỏ chỉ là một phần trong cuộc đời, nhưng ngược lại, chúng ta là cả cuộc đời của nó”. Từ tình thương đó , ông nhắc nhở đứa con rằng:”ba mẹ chỉ là một phần trong đời của con, nhưng với ba mẹ, con là cả một cuộc đời”. Chắc chắc là như vậy rồi, mỗi năm trôi qua, con lớn thêm một tuổi, khỏe mạnh, hồng hào, đầy nhựa sống của tuổi trẻ. Cha mẹ cũng lớn thêm một tuổi, nhưng mà tuổi này là tuổi của xanh xao, hao gầy, nhiều nếp nhăn trên trán mà hiếm đứa con nào nhận ra điều đó, vì cái chúng luôn nhận được là “con ngủ đi con, đớn đau ngoài kia mình ba (me) chịu được rồi”- chịu cho đến khi trút hơi thở cuối cùng vẫn mong chờ được nhìn thấy con lần cuối. Chờ như ông cậu Tám của tôi, lúc ông bị tai biến, ông chờ người con cả về, khi ông con cả về được chừng một lát sau thì ông cậu Tám tôi mất. Hình như những người già luôn muốn make sure (chắc chắn là) con cái mình ổn – bình an trước khi mình ra đi vĩnh viển. Tôi không rõ lắm, cũng không biết về già mình có như vậy không, nhưng sau vài sự kiện mất người thân trong gia đình, tôi rút ra điều đó. Quả thật, “tình cảm gia đình cũng như không khí ngoài kia, nó luôn tồn tại, vô điều kiện đến mức người ta thường quên đi sự hiện diện và cần thiết của nó trong cuộc sống”- đến mức khi một người họ hàng nằm xuống ta mới ngỡ ngàng và cảm nhận sâu sắc cái gọi là “tình cảm gia đình”.

Quyển sách cho ta thấy chân dung một người cha rất mực thương con, từng bức thư gửi con là từng bài học kinh nghiệm sống từ cuộc đời ông, ông đem chia sẻ, khuyên dạy con mình, một phương pháp giáo dục bằng “thân giáo” đầy hiệu quả. Tuy nhiên, cái kết bất ngờ là người mẹ lại là người kết thúc chuỗi thư từ này thay vì là người cha phải viết.

Mùa Vu Lan báo Hiếu, người ta nhắc quá nhiều đến người mẹ đến nỗi quên đi sự hiện diện của người cha. Có lẽ xã hội bây giờ ngàng càng có nhiều bà mẹ đơn thân mà hiếm khi thấy những ông bố đơn thân. Tuy nhiên, tôi vẫn muốn viết về cha qua cảm nhận về quyển sách này, như một cách nhắc nhở và một sự công bằng (ghi nhận công ơn của cả ba và mẹ) và vì thực tế cũng không thiếu những người cha lo lắng, quan tâm con cái như vị nam phụ huynh đoàn sinh ở đơn vị tôi từng sinh hoạt.

Có lần, chị tôi viết thư về bảo rằng chị không thể nào quên được hình ảnh ba tôi ngồi bán pháo chiều ba mươi tết (lúc đó Sài Gòn còn cho đốt pháo) để kiếm tiền cho gia đình tám miệng ăn xài tết. Ba tôi là người chân chất không biết nói những lời văn chương hoa mỹ nhẹ nhàng. Tôi xin mượn quyển sách này để tôi và, có thể là, các anh chị em nữa, hiểu thêm về cha, để thấy được rằng đằng sau những lời nói cộc cằn là tình yêu thương “cao như núi Thái”; để những người cha trên thế gian này cũng vui lòng rằng mình cũng được nhắc nhớ trong mùa Vu Lan báo Hiếu.

Brambleton, mùa Báo Ân

_(())_ Diệu Hoàng


(*) Tựa đề bài viết lấy theo tựa đề của quyển sách “Con ngủ đi con…” của tác già Nguyễn Ngọc Thạch.

August 10, 2016

HIẾU THIỆN

“Thưa cô, con là anh hai của Thư, con đi làm xa, con rất thương em Thư, con cám ơn cô đã dạy bảo Thư”.
“Những điều ghi trong đây là đúng hết. Cô ơi, nhiều khi ăn cơm ở nhà cháu rất làm biếng ăn, nhiều khi sai nhờ việc gì cũng lười chưa chịu làm liền, nhờ cô nhắc nhở cháu giùm”.

“Cám ơn cô, cháu chịu ăn chay, thấy cháu ăn chay được nên tôi cho cháu ăn chay mười ngày…”

Đó là những lời nhận xét đơn sơ, mộc mạc; những chia sẻ chân tình mà thỉnh thoảng tôi bắt gặp trên những trang sổ Hiếu Thiện của các em vào mỗi chiều chủ nhật. Sổ Hiếu Thiện, hay còn được chúng ta gọi tắt là sổ Hiếu. Quyển sổ Hiếu tôi làm theo mẫu sỗ Hiếu khi tôi còn là Oanh vũ được các anh chị làm cho, tôi theo mẫu đó làm lại cho các em trong khi chờ sổ in sẵn của Gia đình và mẫu  sổ chung của Ban hướng dẫn phát hành.

Tôi muốn sổ Hiếu được thực hành xuyên suốt năm cho nên trong thời gian chờ đợi đó, tôi làm sổ Hiếu bằng cách thủ công: lấy quyển tập học trò chín mươi sáu trang làm sổ Hiếu, trong đó ghi bốn mục chính: Hiếu thảo (việc nhà), Việc thiện, Tu thân (ăn chay, niệm Phật) và Sinh hoạt (em có đi sinh hoạt tuần đó hay không), sau cùng là phần nhận xét cùa phụ huynh (nằm bên trái quyển tập) và nhận xét của đoàn trưởng (nằm bên phải quyển tập). Hàng tiêu đề dùng để ghi thời gian, tuần lễ từ ngày tháng của tuần sinh hoạt này đến ngày tháng của tuần sinh hoạt sau. Nhiều khi vì công việc hoặc vì chuyện gia đình riêng tôi nghỉ sinh hoạt mấy tuần liền, vậy mà có một số em vẫn tự giác ghi sổ Hiếu đều đặn mặc dù không có tôi “chấm” và ghi tiếp cho các em phần sổ Hiếu của tuần sau.

Vì tôi làm theo cách “ghi tay” nên mỗi một nội dung sổ Hiếu như vậy mất hai trang giấy, thường sau khi chấm xong thì tôi ghi tiếp các đề mục đó qua hai trang giấy sau để các em ghi chép tiếp (nếu như có in sẵn thì tôi khỏi ghi rồi J). Tôi cố gắng duy trì sổ Hiếu như vậy và cứ mong Gia đình và Ban hướng dẫn chốt nhanh nhanh mẫu sổ Hiếu để tôi khỏi phải ghi nữa, nhưng việc gì cũng phải mất thời gian và sự kiểm nghiệm nên tôi đành phải chờ. Do đó, tôi lấy giải pháp sổ Hiếu ngày xưa tôi được làm để làm cho các em như một phương án dự phòng, để các em quen với việc ghi sổ Hiếu, nghĩa là trong một cách nào đó, các em cũng quen với với việc tuần đó có ăn chay, niệm Phật, rửa rau giúp bà hay cho bạn mượn gôm, hay cố tình làm một việc gì đó để có việc ghi vào sổ Hiếu. Cho dù là các em cố ý hay tự nguyện làm một việc để ghi vào bảy dòng tôi chừa trong sổ cho các em ghi thì đó đều là những việc thiện lành nhằm tưới tẩm hạt giống bồ đề trong các em để khi các em lớn, một ngày nào đó, tự nhiên các em sẽ nhận ra hạt giống bồ đề mình đã được gieo trồng từ khi là Oanh vũ, nay lớn lên vững chãi với đời và kiên tâm với đạo.

Tôi không nhớ từng câu từng chữ mà phụ huynh các em ghi, chỉ nhớ ý là như vậy, nay xin ghi lại trong bài viết này cho các anh chị em cùng đọc. Mong rằng nó cũng sẽ là liều vitamin cho các anh chị trong quãng đời làm huynh trưởng ngành Đồng.

Nhìn nét chữ là biết, có phụ huynh học hành đàng hoàng, biết lo cho con cái, nét chữ rõ ràng, dễ đọc, ít sai chính tả; nhìn nét chữ xiêu vẹo, sai chính tả vài chữ, có khi sai cả nguyên câu là tôi rất thương, vì phụ huynh đó ít học hoặc vì công việc không được thường xuyên cầm bút nên chữ không được đẹp lắm, mà họ đều viết nên những điều dễ thương vô cùng (đối với tôi). Tôi đọc và quan sát các em oanh vũ chung quanh mình, em nào cũng như em nào trong đồng phục áo lam nhưng cha me, anh chị của các em là những hoàn cảnh rất rất là khác biệt. Tuy nhiên, họ cùng chung nhau ở một điểm là luôn mong muốn con em mình được học hỏi những điều hay lẽ phải, biết nghe lời người lớn, biết ăn chay, v.v., nói chung là trở thành người tốt và điềm tĩnh trong cái xã hội chỉ cần một lời nói vô tình cũng có thể xảy ra một trận ẩu đả, mà từ trận ẩu đả đó có thể gây ra những thiệt hại khác có khi là thiệt hại về nhân mạng…

Bằng cái cách gọi tôi bằng cô, vô tình quyển sổ hiếu còn có thêm một nhiệm vụ nữa là giống như một sổ liên lạc – một sợi dây liên lạc vô hình giữa huynh trưởng và phụ huynh. Có khi tôi đọc được ở phần Sinh hoạt: cháu đi sinh nhật, không đi sinh hoạt được, hay cháu bệnh không đi sinh hoạt được, cả những phần “nhờ vả” như nhờ nhắc nhở, khuyên cháu giùm của một trong những phụ huynh tôi trích dẫn ở trên.

Luận về tên của quyển sổ: sổ Hiếu Thiện. Chữ Hiếu thì ai cũng biết, còn tại sao lại là Hiếu Thiện- sổ Hiếu Thiện chứ không phải là sổ Hiếu Đạo hay Hiếu Nghĩa hay Hiếu Thuận? Chữ “thiện” nó mang nhiều nghĩa- tôi nghĩ nó bao hàm cả “đạo” cả “nghĩa” cả “thuận” trong đó. Một khi mình là làm việc thiện rồi là mình đã giữ được đạo, là mình làm việc nghĩa và như vậy thì là mình mang đến sự thuận hòa. Chữ Thiện- sau này các em sẽ hiểu hành thập Thiện, à thì ra các em đã hành một trong những thập Thiện khi các em thực hành ghi chép vào sổ Hiếu Thiện.

Tưới tẩm hạt giống bồ đề không phải là cầm cái bình nước rồi tưới mỗi ngày. Hạt bồ đề này, hạt bồ đề tâm, làm sao tưới tẩm một cách khéo léo để hạt bồ đề thấm chất hiếu thảo, đậm hương thiện lành mà phát triển thành đạo tâm tươi tốt - thành những người “Phật tử chân chính góp phần xây dựng xã hội theo tinh thần Phật giáo”, sổ HIẾU THIỆN là một trong những bình tưới mà Gia đình Phật từ nào cũng có.

Virginia, mùa Hiếu năm 2016 - PL 2560


 _(())_ Phước Định
(Bài viết cho bản tin Hiếu GĐPT QĐ-SG)